Kết quả Hội nghị Thường trực HĐND các tỉnh, thành phố khu vực Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Bắc bộ lần thứ năm, nhiệm kỳ 2016-2021

Việc tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND là nhằm phát huy tốt hơn vai trò của cơ quan đại diện cho nhân dân, bảo đảm quyền lực nhà nước thực sự thuộc về Nhân dân; giúp HĐND thực hiện tốt hơn chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương và giải quyết những vấn đề cử tri quan tâm, góp phần tích cực trong việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của địa phương và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Ngày 22/9/2018, được sự đồng ý của lãnh đạo Quốc hội, Ban Công tác đại biểu đã phối hợp với Thường trực HĐND tỉnh Thái Bĩnh tổ chức Hội nghị Thường trực HĐND các tỉnh, thành phố khu vực Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Bắc bộ lần thứ năm (nhiệm kỳ 2016-2021) với chủ đề: “Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh”.

Ban Công tác đại biểu vừa có thông báo kết quả hội nghị. Theo đó, phát biểu dẫn đề Hội nghị, đồng chí Trần Văn Túy, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Trưởng Ban Công tác đại biểu, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương đề nghị Thường trực HĐND các tỉnh, thành phố Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Bắc bộ chia sẻ những bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với hoạt động giám sát của HĐND; việc lựa chọn nội dung, xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát bảo đảm tính hợp lý; đối mới phương thức tổ chức giám sát để đạt hiệu quả cao; nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường năng lực và trình độ của đại biểu HĐND, thành viên các Ban HĐND, Tổ đại biểu HĐND trong công tác giám sát; nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc thực hiện các kết luận sau giám sát; công tác chuẩn bị tổ chức lấy phiếu tín nhiệm của HĐND đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu bảo đảm đúng mục đích, yêu cầu của công tác đánh giá cán bộ.

Các bài tham luận, các ý kiến trao đổi tại Hội nghị đều khẳng định: giám sát có vai trò rất quan trọng trong hoạt động của HĐND, là một trong hai chức năng cơ bản của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Việc tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND là nhằm phát huy tốt hơn vai trò của cơ quan đại diện cho nhân dân, bảo đảm quyền lực nhà nước thực sự thuộc về Nhân dân; giúp HĐND thực hiện tốt hơn chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương và giải quyết những vấn đề cử tri quan tâm, góp phần tích cực trong việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của địa phương và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò quan trọng của hoạt động giám sát, thời gian qua, Thường trực và các ban của HĐND các cấp nói chung, HĐND cấp tỉnh nói riêng đã có nhiều đổi mới cả trong việc xây dựng nội dung, lựa chọn hình thức, phương pháp, thành phần tham gia đoàn giám sát, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát; chú trọng giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, nghị quyết của HĐND và giám sát thực hiện các nội dung chất vấn, giải quyết kiến nghị của cử tri. Thông qua hoạt động giám sát, đã kịp thời phát hiện, khuyến nghị xử lý những bất cập, thiếu sót trong tổ chức thực hiện của các ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và cải cách hành chính, xây dựng chính quyền các cấp vững mạnh.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động giám sát của HĐND còn bộc lộ một số hạn chế trong việc lựa chọn đối tượng, nội dung, thành phần giám sát; phương pháp tổ chức giám sát; hiệu lực, hiệu quả của hoạt động giám sát...

Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó chủ yếu là: Các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động giám sát của HĐND chưa đầy đủ, đồng bộ, đặc biệt là chưa có quy chế hoạt động thống nhất của HĐND các cấp và thiếu các chế tài xử lý đối với việc không thực hiện hoặc thực hiện không nghiêm túc các kiến nghị sau giám sát; sự phối hợp giữa Thường trực, các ban và các tổ đại biểu HĐND với các cơ quan, đơn vị liên quan trong hoạt động giám sát có mặt chưa chặt chẽ, chưa kịp thời; công tác bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng cho đại biểu HĐND, nhất là những đại biểu tham gia khóa đầu chưa thường xuyên, hiệu quả chưa cao; cơ cấu đại biểu HĐND hiện nay chưa hợp lý, chủ yếu là kiêm nhiệm, đại biểu chuyên trách còn ít, trong khi hoạt động giám sát cần có hệ thống và đòi hỏi người tham gia phải có nhiều thời gian và điều kiện để đầu tư nghiên cứu tài liệu về nội dung giám sát; năng lực, trình độ, bản lĩnh và trách nhiệm của một số đại biểu HĐND còn hạn chế cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả của hoạt động giám sát.

Để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh, thì trong thời gian tới cần tập trung thực hiện có hiệu quả một số nội dung:

Một là: Chú trọng nâng cao chất lượng công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng giám sát cho đại biểu HĐND, tạo điều kiện cho các đại biểu được cập nhật các chủ trương, chính sách (nhất là các chủ trương, chính sách mới); gặp gỡ, giao lưu, chia sẻ những kinh nghiệm hay, cách làm tốt, góp phần nâng cao năng lực, chất lượng và hiệu quả hoạt động của đại biểu HĐND.

Hai là: Tiếp tục đổi mới nội dung và phương pháp giám sát theo hướng thiết thực, cụ thể; nhất là việc lập bảng hỏi; phiếu điều tra dư luận xã hội; chất vấn người đứng đầu các cơ quan, tổ chức tại kỳ họp; tổ chức lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do HĐND bầu và phê chuẩn. Khi giám sát chuyên đề cần tập trung vào những vấn đề bức xúc, nổi cộm được dư luận xã hội và cử tri quan tâm; đồng thời, phải chọn đúng đối tượng, phương pháp, thời điểm giám sát và triển khai thực hiện chặt chẽ, nghiêm túc. Báo cáo kết luận giám sát phải bảo đảm tính trung thực, khách quan, những kiến nghị giám sát phải cụ thể và khả thi, tránh việc kết luận, kiến nghị chung chung gây khó khăn cho việc thực hiện (nhất là việc khắc phục những hạn chế, yếu kém của các tổ chức, cá nhân có liên quan).

Ba là: Đối với việc thành lập đoàn giám sát phải bảo đảm bao gồm các đại biểu có năng lực, chuyên môn vững vàng làm nòng cốt; đồng thời, huy động và mời được những chuyên gia có trình độ, chuyên môn phù hợp để xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện các nội dung giám sát, nhất là các cuộc giám sát chuyên đề, có tính chuyên môn sâu hoặc phạm vi giám sát rộng.

Bốn là: Chú trọng phát huy tính tự giám sát của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát thông qua việc xác định rõ mục đích, yêu cầu giám sát và chủ động cung cấp đề cương, biểu mẫu một cách chi tiết, bảo đảm thu thập đầy đủ các thông tin liên quan đến nội dung giám sát để các đối tượng giám sát tự thực hiện giám sát và báo cáo kết quả, làm cơ sở để so sánh, đối chứng với thực tiễn; đồng thời, để xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát định kỳ và đột xuất của Thường trực và các ban HĐND.

Năm là: Tăng cường phối hợp chặt chẽ với Đoàn Đại biểu Quốc hội cấp tỉnh, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ và lãnh đạo UBND cùng cấp trong xây dựng kế hoạch và triển khai các hoạt động giám sát; chú trọng làm tốt công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các kiến nghị sau giám sát, thực hiện các nội dung chất vấn và giải quyết kiến nghị của cử tri; đồng thời phát huy vai trò của thông tin, truyền thông, nhất là truyền thông trực tiếp các phiên thảo luận, chất vấn, trả lời chất vấn tại kỳ họp và tại các cuộc tiếp xúc cử tri; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, làm cẩm nang giúp cho việc nắm bắt, so sánh, đánh giá tình hình, kết quả thực hiện các nội dung giám sát một cách hệ thống, chính xác, chất lượng.

Tại hội nghị các vị đại biểu cũng đã kiến nghị, đề xuất với Quốc hội, Chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng sớm ban hành các văn bản hướng dẫn cần thiết để thi hành hiệu quả Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND; Ban hành Quy chế hướng dẫn hoạt động của HĐND các cấp, trong đó cần có quy định thống nhất, cụ thể hơn về quy trình, phương thức tổ chức hoạt động chất vấn giữa hai kỳ họp, phiên giải trình của Thường trực HĐND; Nghiên cứu, bổ sung các chế tài đủ mạnh trong tổ chức thực hiện hoạt động giám sát để nâng cao trách nhiệm của chủ thể giám sát và các đối tượng chịu sự giám sát; Chỉ đạo sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức chính quyền địa phương bảo đảm phù hợp với thực tiễn, nhất là quy định về giảm hợp lý số lượng đại biểu HĐND kiêm nhiệm, tăng số lượng đại biểu chuyên trách, về tổ chức văn phòng tham mưu... theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XII). Đồng thời, đề nghị Ban Công tác đại biểu tiếp tục tổ chức các cuộc hội thảo, các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên đề về kỹ năng hoạt động giám sát nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng giám sát cho đại biểu HĐND các cấp.

Toàn văn kết quả hội nghị mời xem tại file đính kèm

Lượt xem: 736

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.