Kết quả hội nghị chuyên đề giữa Ban Kinh tế và Ngân sách HĐND TP với Ban Kinh tế - Xã hội HĐND quận, huyện, thị xã

Thực hiện Đề án số 04-ĐA/TU ngày 19/12/2013 của Thành ủy Hà Nội và chỉ đạo của Thường trực HĐND thành phố, ngày 17/10/2013 Ban Kinh tế và Ngân sách HĐND Thành phố đã tổ chức hội nghị với Ban Kinh tế - Xã hội HĐND các quận, huyện, thị xã tại quận Long Biên để trao đổi về chủ đề “Kinh nghiệm, kỹ năng thẩm tra dự toán và quyết toán ngân sách”

        Thực hiện Đề án số 04-ĐA/TU ngày 19/12/2013 của Thành ủy Hà Nội và chỉ đạo của Thường trực HĐND thành phố, ngày 17/10/2013 Ban Kinh tế và Ngân sách HĐND Thành phố đã tổ chức hội nghị với Ban Kinh tế - Xã hội HĐND các quận, huyện, thị xã tại quận Long Biên để trao đổi về chủ đề “Kinh nghiệm, kỹ năng thẩm tra dự toán và quyết toán ngân sách”.

Hội nghị có sự tham gia của đại diện Thường trực HĐND và lãnh đạo Ban Kinh tế - Xã hội của 28 quận, huyện, thị xã; đại diện lãnh đạo các Ban và Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND Thành phố, Ủy ban MTTQ Việt Nam Thành phố. Dự và chỉ đạo hội nghị có đồng chí Lê Văn Hoạt, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố.

          Trên cơ sở báo cáo tham luận của các Ban Kinh tế - Xã hội HĐND các quận, huyện, thị xã, ý kiến phát biểu, thảo luận tại hội nghị, hội nghị đã thống nhất một số nội dung sau:

            I. Về kinh nghiệm, kỹ năng thẩm tra dự toán và quyết toán ngân sách của các Ban HĐND:

          1. Để làm tốt công tác thẩm tra quyết toán và dự toán ngân sách, trước hết các ban HĐND phải nắm chắc nhiệm vụ, thẩm quyền của mỗi cấp HĐND trong quyết định dự toán và phân bổ ngân sách cấp mình theo quy định của pháp luật và các hướng dẫn của Trung ương. Kịp thời cập nhật những quy định mới của Trung ương trong lĩnh vực ngân sách Nhà nước.

2. Trong lĩnh vực thẩm tra ngân sách, các Ban HĐND cần quan tâm toàn diện, hệ thống cả dự toán thu, dự toán chi, cả dự toán và quyết toán ngân sách. Thẩm tra và quyết định dự toán tốt sẽ tạo điều kiện cho thực hiện dự toán và điều hành ngân sách. Đồng thời thẩm tra và phê chuẩn quyết toán tốt sẽ đảm bảo quản lý ngân sách chặt chẽ, hiệu quả. Qua thẩm tra tình hình thực hiện dự toán và thẩm tra quyết toán ngân sách hàng năm sẽ chỉ ra những kinh nghiệm tốt cũng như những thiếu sót khuyết điểm trong xây dựng dự toán, thực hiện dự toán và điều hành ngân sách để đề xuất các biện pháp làm tốt hơn cho kỳ sau.

3. Để làm tốt công tác thẩm tra, các Ban HĐND cần có sự phối hợp thường xuyên, chặt chẽ giữa các Ban HĐND với UBND và các cơ quan chuyên môn liên quan của UBND ngay từ khi xây dựng dự toán, trong suốt quá trình tổ chức thực hiện dự toán và xem xét quyết toán ngân sách. Quan tâm vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong xây dựng, thẩm tra dự toán và quyết toán ngân sách. Trong đó, các Ban Kinh tế - Xã hội HĐND các quận, huyện, thị xã cần tham mưu cho Thường trực HĐND để hàng năm, trước khi các cơ quan chuyên môn của UBND xây dựng dự toán ngân sách thì Thường trực HĐND và UBND cần có hội nghị để thống nhất những nguyên tắc, định hướng trong xây dựng và phân bổ dự toán trình HĐND (như kinh nghiệm nhiều năm nay HĐND thành phố Hà Nội đã làm và thấy có hiệu quả. Việc làm này, những năm gần đây càng được nâng cao chất lượng. Tại hội nghị nhất thiết phải do 2 đồng chí Chủ tịch chủ trì, đồng chí Chủ tịch HĐND phải là người kết luận). Việc tham mưu nguyên tắc, định hướng phân bổ cần dựa trên các căn cứ sau: (i) Thực tế thực hiện và kết quả giám sát điều hành ngân sách năm trước. (ii) Chỉ đạo của trung ương trong năm ngân sách tới. (iii) Dự báo khả năng thu, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm tới và trọng tâm ưu tiên của địa phương)… Ban Kinh tế - Xã hội phải chủ động làm việc với cơ quan Tài chính, Kế hoạch, Thuế, Kho bạc để tham mưu cho Thường trực HĐND.

4. Trên cơ sở những nguyên tắc, định hướng xây dựng và phân bổ ngân sách đã được Thường trực HĐND và UBND cùng cấp thống nhất, các Ban HĐND (chủ yếu là lãnh đạo Ban) chủ động phối hợp với các cơ quan chuyên môn của UBND trong suốt quá trình xây dựng dự toán, báo cáo quyết toán (có thể có những buổi làm việc, giám sát, khảo sát sâu tại một số đơn vị, một số lĩnh vực thu, chi ngân sách để có thêm thông tin). Tích cực tham gia ý kiến với UBND tại những cuộc họp UBND bàn về dự toán, quyết toán (rõ chính kiến, đề xuất được nội dung, đủ luận cứ…).

5. Để thẩm tra được tốt, nhất thiết các ban HĐND phải tăng cường các hoạt động giám sát để có đủ thông tin thực tiễn phục vụ giám sát. Trên cơ sở chương trình xây dựng nghị quyết hàng năm của HĐND, các ban phải chủ động xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch giám sát gắn với những nội dung sẽ thẩm tra cùng với giám sát thực hiện nghị quyết của HĐND và việc chấp hành pháp luật trên địa bàn nói chung. Cần kết nối thông tin từ các hoạt động khảo sát, giám sát liên quan phục vụ hoạt động thẩm tra.

6. Khi đi vào thẩm tra từng nội dung cần quan tâm các quy trình và kỹ năng thẩm tra cụ thể sau:

- Trước hết phải kiểm tra hồ sơ, nếu hồ sơ thiếu, kiên quyết yêu cầu bổ sung.

- Khi thẩm tra vào nội dung cần quan tâm đánh giá toàn diện tình hình, phương án dự toán, quyết toán để thấy được một cách khái quát bức tranh tổng thể, sau đó cần đi sâu phân tích, đánh giá từng khoản thu, chi để nhìn rõ hơn bản chất của tình hình (chú ý các khoản chi chuyển nguồn; thu kết dư, thu chuyển nguồn, các khoản thu không dự toán đầu năm) để trách việc chỉ thấy rừng mà không thấy cây hoặc chỉ biết cây mà không thấy rừng. Cần luôn xem xét dự toán thu, cho ngân sách trong mối quan hệ với chỉ số giá tiêu dùng-lạm phát. Xem xét dự toán thu trong chuỗi thời gian 2-3 năm trước đó để thấy được xu thế, chiều hướng thay đổi việc thu đối với từng khoản thu và xem xét các yếu tố tác động tăng giảm thu của từng khoản thu trong năm dự toán.

- Đối với dự toán chi cần quan tâm việc đảm bảo tỷ lệ và mức chi đối các khoản chi mà Luật quy định cấp dưới không được giao thấp hơn số cấp trên giao (chi cho khoa học công nghệ, chi cho giáo dục đào tạo), các khoản Trung ương quy định khung (bố trí dự phòng), các khoản tỷ lệ chi so với tổng chi (sự nghiệp môi trường), các khoản chi tăng cao hơn tốc độ tăng chi ngân sách chung (sự nghiệp y tế…).

- Đối với chi thường xuyên cần quan tâm:

+ Các khoản chi theo định mức: cần đảm bảo đúng định mức theo quyết định của cấp có thẩm quyền.

+ Các khoản chi ngoài định mức: Chi nghiệm vụ, chi mua sắm, sửa chữa, chi sự nghiệp khác (kinh tế, giáo dục, KHCN, môi trường…) cần làm rõ sự cần thiết, tính hợp lý, tính hiệu quả, tính không trùng lặp của từng khoản chi, mức chi…

+ Các nội dung chi từ nguồn thu để lại cho các đơn vị thực hiện thu: cần quan tâm tính hợp lý của tỷ lệ để lại, nội dung chi đúng quy định của những khoản này…

- Đối với chi XDCB cần quan tâm:

+ Điều kiện bố trí kế hoạch (thủ tục).

+ Tính ưu tiên, tính đồng bộ trong đầu tư và hiệu quả đầu tư xây dựng.

+ Quan tâm tình hình bố trí công trình chuyển tiếp, tình hình nợ XDCB; việc đảm bảo vốn cho các công trình trọng điểm.

- Phương án phân bổ chi ngân sách cần gắn với xem xét trong khuôn khổ kế hoạch tài chính chung hạn nói chung và kế hoạch đầu tư XDCB trung hạn nói riêng (hướng tới quản lý theo mục tiêu).

- Đối với thẩm tra quyết toán: cần quan tâm nghiên cứu về hồ sơ. Trong hồ sơ quyết toán, nhất thiết phải có biên bản đối chiếu số liệu quyết toán của kho bạc Nhà nước tại địa phương. Yêu cầu về xây dựng báo cáo (quyết toán theo đúng khoản mục dự toán); yêu cầu giải trình các khoản tăng giảm so với dự toán (lý do tăng giảm, nguồn tăng và thẩm quyền bổ sung dự toán) và tính hợp lý, hợp luật của các khoản đề nghị HĐND quyết toán. Quan tâm kiểm tra việc sử dụng dự phòng ngân sách của UBND. Tình hình chuyển nguồn, kết dư ngân sách. Tình hình điều hành ngân sách và nhất là những bất cập, tồn tại và kinh nghiệm cần khắc phục cho xây dựng dự toán và điều hành ngân sách năm sau. Quan tâm xem xét việc thực hiện các kết luận, kiến nghị của KTNN tại địa phương. Đối với các địa phương (quận, huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn) chưa được kiểm toán nhà nước kiểm toán thì cũn có thể tìm đọc kết luận kiểm toán của kiểm toán đối với các địa phương khác để đối chiếu với tình hình ở phương mình và rút kinh nhiệm cho mình.

- Trong thẩm tra nói chung, thẩm tra ngân sách nói riêng không chỉ tập trung phân tích, đánh giá về báo cáo của UBND mà hết sức quan tâm đề xuất nội dung mới, nội dung thiếu (cả quan điểm, số liệu và biện pháp thực hiện). Quan tâm đối chiếu số liệu giữa báo cáo bằng lời và số liệu tại các bảng biểu cũng như số liệu giữa các bảng biểu tổng hợp và chi tiết…

- Đối với những nội dung còn ý kiến khác nhau giữa ý kiến thẩm tra của Ban (cả trong quá trình phối hợp cũng như khi Ban đã thẩm tra) cần chủ động trao đổi, cung cấp thông tin cho lãnh đạo UBND và báo cáo Thường trực HĐND để cung cấp đưa thông tin cho lãnh đạo và chủ động tham mưu cho Thường trực HĐND làm việc với UBND để bàn thống nhất, xử lý.

II. Đề nghị Thường trực HĐND và các Ban Kinh tế - Xã hội HĐND các quận, huyện, thị xã quan tâm:

- Đề nghị Thường trực HĐND các quận, huyện, thị xã sớm lựa chọn để bố trí được lãnh đạo Ban chuyên trách của HĐND quận, huyện, thị xã theo Đề án 04 của Thành ủy, đúng chuyên môn công tác. Quản lý ngân sách là lĩnh vực chuyên môn sâu, đòi hỏi người thẩm tra nhất định phải có chuyên môn và năng lực về quản lý kinh tế và tài chính ngân sách.

- Tăng cường các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho các thành viên Ban, nhất là lãnh đạo Ban và bộ phận chuyên trách. Thường kỳ tổ chức trao đổi kỹ năng, kinh nghiệm hoạt động Ban theo từng chuyên đề giữa các quận, huyện, thị xã với Ban HĐND TP cũng như giữa Thường trực HĐND xã, phường, thị trấn với Ban của quận, huyện, thị xã.

- Tổ chức giám sát tất cả các lĩnh vực thu-chi, quyết toán, thanh toán, tạm ứng…đối với các cơ quan của UBND và điều hành ngân sách của UBND.

- Chủ động xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ hoạt động tham mưu, giám sát, thẩm tra của các  Ban HĐND.

- Ban Kinh tế - Xã hội HĐND các quận, huyện, thị xã cần có quy chế phối hợp với các cơ quan Kế hoạch đầu tư, Tài chính, Kho bạc, Thuế của UBND cùng cấp để việc phối hợp được thường xuyên, chặt chẽ và thuận lợi. Chỉ đạo Ban Kinh tế xã hội thường xuyên phối hợp, tham gia đầy đủ các cuộc họp UBND bàn về vấn đề này.

- Thường trực HĐND quận, huyện, thị xã cần chỉ đạo Ban Kinh tế xã hội chủ động nghiên cứu tham mưu cho Thường trực HĐND họp với UBND cùng cấp để thống nhất nguyên tắc, định hướng xây dựng dự toán, phân bổ ngân sách để chỉ đạo việc xây dựng dự toán hàng năm của UBND và các cơ quan chuyên môn.

- Có cơ chế để Ban Kinh tế - Xã hội HĐND quận, huyện, thị xã báo cáo những nội dung còn có ý kiến khác nhau trong thẩm tra của Ban với báo cáo trình của UBND để Thường trực HĐND làm việc với UBND xử lý, chỉ đạo tiếp thu.

- Đối với những vấn đề phức tạp, Ban chủ động báo cáo Thường trực HĐND để xin ý kiến lãnh đạo của Thường trực quận, huyện, Thị ủy.

          III. Hội nghị kiến nghị Thường trực HĐND Thành phố:

          - Chỉ đạo tăng cường các hoạt động tập huấn, trao đổi kỹ năng, kinh nghiệm hoạt động giữa các ban HĐND Thành phố với các Ban HĐND quận, huyện, thị xã.

          - Cùng với tập huấn kỹ năng chung cho hoạt động của đại biểu HĐND, cần có các chuyên đề tập huấn riêng, chuyên sâu theo chuyên môn từng ban cho các thành viên các ban HĐND các quận, huyện, thị xã và thường trực HĐND các xã, phường, thị trấn.

          - Kiến nghị Trung ương xem xét điều chỉnh lịch biểu quyết định và giao dự toán ngân sách theo hướng mở rộng khoảng thời gian giao và quyết định ngân sách giữa cấp ngân sách để các địa phương có đủ thời gian xây dựng và thẩm tra dự toán cấp mình (sau khi cấp trên giao).

          - Tăng cường các điều kiện về phương tiện và kinh phí phục vụ hoạt động của HĐND.

BAN KINH TẾ VÀ NGÂN SÁCH HĐND TP HÀ NỘI

Lượt xem: 138

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.