Kinh nghiệm, kỹ năng thẩm tra dự toán và quyết toán ngân sách

Kinh nghiệm của HĐND thành phố Hà Nội: Thẩm tra dự toán ngân sách phải bám sát nguyên tắc, định hướng phân bổ đã được thống nhất giữa Thường trực HĐND và UBND. Báo cáo thẩm tra rõ quan điểm, thái độ của Ban Kinh tế và Ngân sách: Nêu khái quát những nội dung thống nhất; những nội dung chưa rõ đề nghị giải trình; những nội dung nào đồng tình nhưng vượt thẩm quyền phải xin ý kiến; những nội dung không thống nhất phải nêu rõ lý do, căn cứ và đề xuất hướng xử lý…

Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Luật và thực tiễn hoạt động của Ban Kinh tế và Ngân sách HĐND thành phố Hà Nội cho thấy, thẩm tra dự toán và quyết toán ngân sách là công việc khá phức tạp, đòi hỏi chuyên môn sâu.

Theo quy định của Luật NSNN năm 2002, đối với ngân sách nhà nước địa phương HĐND các cấp có các chức năng, nhiệm vụ cụ thể như sau:

1. Căn cứ vào nhiệm vụ thu, chi ngân sách được cấp trên giao và tình hình thực tế tại địa phương, quyết định:

Dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn (gồm thu nội địa, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu, thu viện trợ không hoàn lại). Dự toán thu ngân sách địa phương (gồm các khoản thu được hưởng 100% và các khoản thu phân chia theo tỷ lệ %, thu bổ sung từ ngân sách cấp trên). Dự toán chi ngân sách địa phương (bao gồm chi ngân sách cấp mình và chi ngân sách địa phương cấp dưới; chi tiết theo các lĩnh vực chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên; chi trả nợ, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính, dự phòng ngân sách);

2. Quyết định phân bổ dự toán ngân sách cấp mình: Tổng số và mức chi cho từng lĩnh vực. Dự toán chi cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc cấp mình theo từng lĩnh vực. Mức bổ sung cho ngân sách từng địa phương cấp dưới (gồm bổ sung cân đối và  bổ sung có mục tiêu);

3. Phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương;

4. Quyết định các chủ trương, biện pháp để thực hiện ngân sách địa phương;

5. Quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách trong trường hợp cần thiết;

6.  Giám sát việc thực hiện ngân sách đã được HĐND quyết định;

7. Bãi  bỏ những văn bản quy định pháp luật về tài chính – ngân sách của UBND cùng cấp và của HĐND cấp dưới trực tiếp mà trái với Hiến pháp và các quy định pháp luật hiện hành.

8. Đối với Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, ngoài nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại điểm từ 1 đến 7 nêu trên, còn có nhiệm vụ, quyền hạn:

Quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách ở địa phương theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 4 của Luật NSNN. Quyết định tỷ lệ (%) phân chia giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương đối với phần ngân sách địa phương được hưởng từ các khoản thu quy định tại khoản 2 Điều 30 Luật NSNN và các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách ở địa phương (Nội dung này ổn định 3-5 năm và giữa ổn định trong kỳ). Quyết định thu phí, lệ phí và các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật. Quyết định cụ thể một số định mức phân bổ ngân sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi theo quy định của Chính phủ. Quyết định mức huy động vốn theo quy định tại khoản 3 Điều 8 của Luật NSNN.

I. Một số vấn đề cần chú ý về nội dung và kỹ năng thẩm tra dự toán:

1. Thẩm tra hồ sơ trình của UBND: tờ trình, biểu mẫu, thuyết minh, dự thảo Nghị quyết của HĐND (Số lượng biểu mẫu, nội dung và thể thức biểu mẫu có phù hợp quy định của pháp luật; kèm theo dự thảo Nghị quyết có phụ lục biểu mẫu).

2. Thẩm tra nội dung tờ trình, dự thảo nghị quyết:

Trong thực tế, các Ban thường chú trọng đến dự toán chi ngân sách chứ chưa quan tâm nhiều đến dự toán thu ngân sách. Cần tập trung nội dung chính sau:

(1). Đối với dự toán thu:

- Căn cứ số thu ngân sách cấp trên giao, kết quả thực hiện của năm trước năm kế hoạch, các nhân tố tác động tăng-giảm số thu trong năm (phát triển KTXH, thay đổi chính sách thu…) để quyết định dự toán thu NSNN trên địa bàn đảm bảo không thấp hơn số cấp trên giao; trường hợp giao số thu ngân sách địa phương (NSĐP) cao hơn thì cần làm rõ nguồn và tính khả thi (nhất là nguồn thu sử dụng đất).

- Thu NSĐP gồm: (1) thu NSĐP hưởng theo phân cấp (khoản thu được hưởng 100% và khoản thu được hưởng theo tỷ lệ điều tiết); (2) thu bổ sung từ ngân sách cấp trên gồm bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu (trong bổ sung có mục tiêu có bổ sung thực hiện các chính sách, chế độ mới mà NSĐP không cân đối được).

- Thu các khoản quản lý qua ngân sách (phí, lệ phí sự nghiệp để lại như: giá dịch vụ y tế, học phí…).

- Quan tâm đến các giải pháp thực hiện thu ngân sách.

(2). Đối với dự toán chi: Trong quá trình thẩm tra cần lưu ý xem xét kỹ:

a. Cân đối thu – chi ngân sách địa phương;

b. Dự phòng ngân sách đảm bảo trong khung từ 2% đến 5% tổng chi ngân sách địa phương;

c. Dự toán chi bố trí cho các cấp đúng theo phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi tại Nghị quyết số 16/2010/NQ-HĐND ngày 15/12/2010 của HĐND Thành phố. Dự toán chi được rà soát, sắp xếp bố trí theo thứ tự ưu tiên.

d. Các khoản chi phải được quyết định phân bổ theo đầu mối và theo lĩnh vực ngay từ đầu năm; số chi cho giáo dục đào tạo, sự nghiệp môi trường (cả chi thường xuyên và chi đầu tư XDCB) không thấp hơn số cấp trên giao. Không bố trí các khoản chi chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt chế độ, định mức chi.

e. Chi hỗ trợ các cơ quan ngành dọc trên địa bàn (công an, quân đội, tư pháp…): theo đúng quy định của Trung ương, nghị quyết của HĐND Thành phố.

f. Đối với chi XDCB: (1) Bố trí vốn cho các dự án trong khả năng ngân sách được HĐND quyết nghị. (2) Thẩm tra danh mục các dự án đầu tư đảm bảo đủ thủ tục (bố trí vốn thực hiện phải có quyết định đầu tư dự án trước ngày 31/10); bố trí vốn cho các dự án hoàn thành đảm bảo nhóm B không quá 5 năm, nhóm C không quá 3 năm; bố trí vốn các dự án mới đảm bảo tổng số vốn bố trí cho từng dự án tối thiểu bằng 15% đối với dự án nhóm A, 20% đối với dự án nhóm B, 35% đối với dự án nhóm C. (3) Phân bổ chi tiết vốn cho các dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách cấp trên hỗ trợ bổ sung có mục tiêu phải đảm bảo đúng danh mục, đúng mục tiêu đã được cấp trên quyết định. (4) Bố trí vốn thanh toán cho các công trình hoàn thành quyết toán, bố trí vốn trả nợ theo tỷ lệ cấp trên quy định. (5) Các công trình trọng điểm của địa phương phải được ưu tiên tập trung bố trí vốn, tránh dàn trải.

g. Đối với chi thường xuyên: (1) Phân bổ đúng định mức. (2) Rà soát kỹ các nhiệm vụ chi ngoài khoán, không bố trí dự toán cho các nhiệm vụ chuyên môn thường xuyên đã được tính trong định mức khoán chi. (3) Chi cải tạo, sửa chữa đối với các công trình có mức vốn trên 01 tỷ đồng cũng phải lập danh mục riêng và phải đủ thủ tục như đối với các dự án đầu tư XDCB. (4) Trích nguồn chi cải cách tiền lương đảm bảo tỷ lệ quy định (từ tiết kiệm 10% dự toán chi thường xuyên ngoài các khoản lương, phụ cấp lương và các khoản có tính chất lương; từ 40% số thu được để lại theo chế độ; đối với số thu dịch vụ sử dụng 40% chênh lệch thu, chi từ hoạt động dịch vụ. Riêng ngành y tế sử dụng tối thiểu 35% số thu để lại theo chế độ sau khi trừ chi phí thuốc, máu, dịch truyền, hoá chất, vật tư thay thế, vật tư tiêu hao nếu đã kết cấu trong giá dịch vụ).

h. Đối với chi từ nguồn thu để lại cho đơn vị: đảm bảo đúng mục đích, đúng chế độ, không chi sai tính chất nguồn thu.

Lưu ý: trong báo cáo thẩm tra nêu rõ quan điểm, thái độ của Ban, những nội dung nào thống nhất (nêu khái quát), những nội dung nào chưa rõ đề nghị giải trình, những nội dung nào đồng tình nhưng vượt thẩm quyền phải xin ý kiến, những nội dung không thống nhất phải nêu rõ lý do, căn cứ và đề xuất hướng xử lý…

Kinh nghiệm của HĐND TP Hà Nội: thẩm tra bám sát nguyên tắc, định hướng phân bổ dự toán đã được thống nhất giữa Thường trực HĐND và UBND (đặc biệt tính tuân thủ các nguyên tắc theo quy định của Luật, hướng dẫn của Trung ương, của Thành phố).

II. Một số vấn đề cần chú ý về nội dung và kỹ năng thẩm tra quyết toán

1. Quyết toán ngân sách là khâu cuối cùng của chu trình quản lý ngân sách nhằm xác định và khẳng định việc thực hiện dự toán thu, chi ngân sách do các cấp có thẩm quyền quyết định. Tuy nhiên, công tác quyết toán ngân sách chưa được quan tâm đúng mức. Trong hoạt động thẩm tra quyết toán còn có tâm lý “việc đã rồi”, ít địa phương quan tâm đến việc rút kinh nghiệm cho công tác thực hiện dự toán ngân sách các năm tiếp theo.

Trong quá trình thẩm tra quyết toán, cần phải quan tâm một số vấn đề sau: (1) Sự đầy đủ của hồ sơ trình báo cáo quyết toán (biểu mẫu, thuyết minh, xác nhận của kho bạc, dự thảo nghị quyết, tài liệu khác theo yêu cầu của HĐND nếu có); (2) Sự đúng đắn, chính xác, hợp lý, hợp luật của các nội dung đề nghị quyết toán; (3) Những vấn đề cần rút kinh nghiệm trong công tác quản lý ngân sách (trong xây dựng và quyết định dự toán ngân sách, trong điều hành ngân sách…).

2. Các yêu cầu cơ bản đối với quyết toán ngân sách

- Quyết toán ngân sách (trừ cấp xã) được tổng hợp từ quyết toán của các đơn vị dự toán thuộc cấp mình và quyết toán của ngân sách cấp dưới.

- Quyết toán chi NSĐP không được vượt quá số quyết toán thu NSĐP.

- Số quyết toán thu phải là số thực thu vào cơ quan kho bạc trong niên độ. Số quyết toán chi là số đủ thủ tục thanh toán trong niên độ theo chế độ quy định và số chi chuyển nguồn theo quyết định của cấp có thẩm quyền.

- Nội dung quyết toán phải đúng với nội dung chỉ tiêu ghi trong dự toán được duyệt (gồm cả dự toán đầu năm và dự toán điều chỉnh, bổ sung trong năm).

          3. Một số kinh nghiệm trong thẩm tra báo cáo quyết toán

(1). Đối với quyết toán thu ngân sách:

- Quyết toán cả số thu NSNN trên địa bàn và thu NSĐP. Làm rõ tổng hợp các khoản thu có đúng không? Có phù hợp với các khoản mục trong dự toán thu không? (Chú ý thu chuyển nguồn từ năm trước chuyển sang và thu kết dư năm trước; Đánh giá xu hướng tăng, giảm của các khoản thu so với năm trước để rút kinh nghiệm trong xây dựng, điều hành ngân sách và phân bổ dự toán năm sau).

- Đánh giá các khoản thu có đạt dự toán không? Nguyên nhân chủ quan, khách quan. Có so sánh đối chiếu với số ước thực hiện thu ngân sách trong báo cáo ngân sách cuối năm trước.

- Đánh giá có nợ đọng ngân sách không? (Số nợ thuế, phí…., phân tích làm rõ nợ khó đòi, nợ có khả năng thu).

- Những vấn đề cần rút kinh nghiệm trong xây dựng dự toán thu và trong điều hành thực hiện dự toán thu (Tư tưởng: chống thất thu, chống thu sai quy định, chống lạm thu).

(2). Đối với quyết toán chi ngân sách:

- Thẩm tra quyết toán chi NSĐP và chi ngân sách cấp mình. Làm rõ tổng hợp các khoản chi có phù hợp với các khoản mục chi trong dự toán (gồm cả giao đầu năm và giao bổ sung), đúng tính chất nguồn kinh phí.

- Có đảm bảo cân đối thu – chi ngân sách? Có đề nghị quyết toán chi lớn hơn thu ngân sách?

- Tình hình và mức độ thực hiện các khoản dự toán chi, nhất là chi cho giáo dục đào tạo, sự nghiệp môi trường; chi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình mục tiêu thành phố phải đúng mục tiêu; chi nguồn cải cách tiền lương đúng mục đích.

- Làm rõ nguyên nhân khách quan và chủ quan không hoàn thành dự toán chi.

- Quyết toán chi phải thuyết minh hiệu quả sử dụng ngân sách, đối chiếu với kết quả thực hiện các chỉ tiêu KTXH do HĐND giao.

- Việc thực hiện kết luận, kiến nghị của kiểm toán nhà nước (nếu có): các khoản phải xuất toán, các khoản giảm chuyển nguồn tăng kết dư, các khoản tăng chuyển nguồn, giảm kết dư; các khoản phải hoàn trả ngân sách cấp trên…

(3). Một số lỗi thường gặp trong hồ sơ trình thẩm tra, nội dung đề nghị quyết toán:

a. Hồ sơ trình thẩm tra:

- Không đủ tài liệu theo quy định, không đúng các biểu mẫu báo cáo; không thống nhất số liệu giữa các biểu mẫu, giữa biểu mẫu quyết toán với báo cáo thuyết minh, giữa báo cáo quyết toán của UBND với dự thảo Nghị quyết của HĐND.

- Chưa có biên bản đối chiếu số liệu quyết toán với cơ quan kho bạc.

- Chưa thống nhất số liệu đề nghị quyết toán với số quyết toán ngân sách HĐND cấp dưới đã thông qua.

- Báo cáo thuyết minh chủ yếu là biểu số liệu, chưa tập trung phân tích đánh giá tình hình thực hiện dự toán, chưa chỉ rõ nguyên nhân và trách nhiệm; chưa phân tích, giải trình các khoản quyết toán tăng, giảm so với dự toán cả về nguồn, thẩm quyền quyết định.

- Hồ sơ trình không đúng thời gian quy định.

b. Nội dung đề nghị quyết toán:

- Quyết toán số thu thấp hơn số thực thu hoặc cao hơn số thu thuộc phạm vi quản lý.

- Đề nghị HĐND quyết định quyết toán chi cả kinh phí ủy quyền.

- Sử dụng kinh phí dự phòng không đúng thẩm quyền, không đúng quy định.

- Quyết toán chi cho những nội dung chi không thuộc nhiệm vụ chi của cấp ngân sách.

- Quyết toán sử dụng chi không đúng nguồn (nguồn chi đầu tư cho nhiệm vụ chi thường xuyên và ngược lại, sử dụng nguồn cải cách tiền lương cho nhiệm vụ chi thường xuyên). 

- Quyết toán chi các khoản chi không đúng quy định về định mức, đơn giá chi (nhất là chi hội nghị, công tác phí…) hoặc không có chế độ chi (chi quảng cáo, chi thưởng nhân dịp lễ tết…).

- Quyết toán chi hỗ trợ ngành dọc không đúng nội dung, vượt định mức (chi thưởng thành lập ngành, hỗ trợ ăn trưa…).

- Đề nghị quyết toán chi các nội dung chi chưa đủ điều kiện, chưa hoàn thành thủ tục thanh quyết toán; Quyết toán chi cho công trình dự án cao hơn tổng mức đầu tư dự án được duyệt.

Ban Kinh tế và Ngân sách HĐND TP Hà Nội

Lượt xem: 5271

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.