Kinh nghiệm và một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp thành phố Hà Nội

Trong những năm qua, hoạt động của HĐND các cấp thành phố Hà Nội ngày càng dân chủ, thực chất, chất lượng và hiệu quả, có nhiều đổi mới cả trong tư duy và thực tiễn hành động. Những kết quả này thể hiện trên tất cả các lĩnh vực nhưng rõ nét nhất là trong việc quyết định các vấn đề quan trọng về kinh tế - xã hội, ngân sách, quy hoạch ngành, lĩnh vực của địa phương; giám sát chuyên đề, chất vấn, trả lời chất vấn...

Theo quy định của Hiến pháp, “HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”.

Trong những năm qua, hoạt động của HĐND các cấp thành phố Hà Nội ngày càng dân chủ, thực chất, chất lượng và hiệu quả, có nhiều đổi mới cả trong tư duy và thực tiễn hành động. Những kết quả này thể hiện trên tất cả các lĩnh vực nhưng rõ nét nhất là trong việc quyết định các vấn đề quan trọng về kinh tế - xã hội, ngân sách, quy hoạch ngành, lĩnh vực của địa phương; giám sát chuyên đề, chất vấn, trả lời chất vấn..., góp phần thể chế hóa kịp thời, đúng đắnđường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành của chính quyền các cấp, đẩy mạnh phát triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị-xã hội của Thành phố. Hoạt động giám sát được tăng cường và có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan từ Thành phố đến cơ sở. Nội dung giám sát tiếp tục có nhiều đổi mới, được thực hiện bài bản, thiết thực, hiệu quả. Hoạt động kỳ họp đã có nhiều cải tiến,đổi mới theo hướng đi vào thực chất, phát huy dân chủ, trí tuệ của đại biểu để quyết định những vấn đề quan trọng của Thành phố và các địa phương. Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn có nhiều đổi mới, sôi nổi, tâm huyết đã để lại dấu ấn tốt đẹp trong cử tri và nhân dân Thủ đô. Công tác tiếp dân, đôn đốc giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân được đổi mới theo hướng gần dân, sát dân và đôn đốc giải quyết dứt điểm các vụ việc để tồn đọng, kéo dài. Tổ chức bộ máy được củng cố, kiện toàn từng bước ổn định, cơ bản đáp ứng yêu cầu của hoạt động thực tiễn. Nhận thức về xây dựng pháp luật có những chuyển biến tích cực, hiệu quả. Phương thức, chế độ làm việc từngbước được cải tiến theo hướng khoa học, nền nếp hơn, phát huy dân chủ, tăng tính chủ động, sáng tạo, phối hợp tốt hơn giữa các đơn vị, cơ quan hữu quan.

Từ thực tiễn hoạt động của HĐND các cấp thành phố Hà Nội, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm, trong đó quan trọng nhất là thường xuyên tranh thủ sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, bám sát những trọng tâm chỉ đạo của Trung ương, Thành phố, địa phương, đồng thời phải có sự phối kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa Thường trực HĐND - UBND - Uỷ ban MTTQ- Đoàn ĐBQH trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan; tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của HĐND các cấp, vai trò và trách nhiệm của đại biểu HĐND; không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của HĐND theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, công khai, dân chủ, trách nhiệm, thiết thực, hiệu quả, vì dân, gần dân, sát cơ sở. Công khai các hoạt động, đặc biệt là hoạt động giám sát, chất vấn, triệt để khai thác các công cụ truyền thông.

Bên cạnh đó, chú trọng kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng, năng lực hoạt động của đại biểu HĐND, phát huy vai trò, trách nhiệm của Thường trực HĐND trong việc điều hoà, phối hợp hoạt động giữa các Ban và các cơ quan của UBND. Chú trọng đến chất lượng, tiêu chuẩn đại biểu khi lựa chọn giới thiệu người ứng cử đại biểu HĐND các cấp; tăng số lượng và nâng cao chất lượng đại biểu chuyên trách có năng lực, dám nghĩ, dám làm, tâm huyết, trách nhiệm với công việc để tham gia vào các Ban của HĐND; tăng số lượng các phòng và bố trí hợp lý cơ cấu các phòng của Văn phòng và nâng cao trách nhiệm tham mưu, phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức thuộc Văn phòng Đoàn ĐBQH&HĐND. Bố trí đủ số cán bộ cần thiết, phù hợp bộ máy giúp việc cho HĐND; nhất là cấp huyện để đảm bảo khả năng tham mưu, phục vụ thực hiện chức năng nhiệm vụ của HĐND…

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND cần thực hiện tốt một số giải pháp.Thứ nhất,tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp.Việc bố trí cán bộ cấp ủy giữ các chức danh Thường trực HĐND là hết sức cần thiết nhằm bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với HĐND và nâng cao vị thế của HĐND, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND. Do vậy, cần quy hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ cấp ủy giữ các chức danh trong HĐND tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ. Kịp thời báo cáo và tranh thủ ý kiến chỉ đạo của Thường trực cấp ủy đảng cùng cấp về những nội dung quan trọng, nhạy cảm phát sinh trên địa bàn, được phát hiện trong quá trình giám sát, khảo sát của Thường trực và các Ban HĐND.

Thứ hai,nâng cao vai trò, trách nhiệm của Thường trực, các Ban và đại biểu HĐND các cấp. Thường trực HĐND phát huy tốt vai trò trong việc điều hòa, phối hợp, nhất là trong các hoạt động thẩm tra, giám sát. Các Ban HĐND nêu cao trách nhiệm của mình trong công tác thẩm tra báo cáo, tờ trình, dự thảo nghị quyết trình tại kỳ họp, chủ động rà soát kỹ nội dung, đưa ra những vấn đề còn vướng mắc, chưa đúng quy định của pháp luật để giúp cho đại biểu có thêm thông tin, định hướng trong việc xem xét, thảo luận và quyết định. Sau khi nghị quyết được ban hành, Thường trực và các Ban HĐND thường xuyên theo dõi, giám sát chặt chẽ việc tổ chức triển khai thực hiện, kịp thời phát hiện và đề xuất biện pháp chấn chỉnh những hạn chế, tồn tại. Các đại biểu HĐND tăng cường đi thực tế tại địa phương, theo dõi giám sát các cơ quan chức năng trong việc thực hiện quy định của pháp luật, nghị quyết HĐND, việc trả lời, giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri; nghiên cứu sớm các tài liệu, văn bản trình tại các kỳ họp HĐND để tham gia ý kiến thảo luận có chất lượng; tích cực tham gia các hoạt động giám sát, hoạt động tiếp xúc cử tri theo quy định...

Thứ ba,củng cố, nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan HĐND,tăng số lượng đại biểu chuyên trách, nhất là đại biểu chuyên trách ở các Ban HĐND cấp huyện, cấp tỉnh; quan tâm bồi dưỡng, nâng cao năng lực, kỹ năng hoạt động cho đại biểu HĐND.Trong quá trình lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu HĐND, cùng với việc đảm bảo cơ cấu cần xác định rõ yêu cầu về tiêu chuẩn người ứng cử, đặc biệt quan tâm những người dự kiến bố trí làm đại biểu chuyên trách nếu trúng cử.

Thứ tư, đảm bảo các điều kiện thuận lợi cho hoạt động của HĐND. Tăng cường và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tham mưu, giúp việc của Văn phòng để đảm bảo tốt chức năng tham mưu, phục vụ hoạt động của HĐND, các cơ quan của HĐND và đại biểu HĐND; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, nơi hội họp, làm việc, trang thiết bị phục vụ hoạt động của HĐND và đại biểu HĐND; đảm bảo kinh phí phục vụ các hoạt động của HĐND và đại biểu HĐND theo tiêu chuẩn, chế độ.

Cùng với đó, cần tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc thực hiện chức năng quyết định và giám sát của HĐND. Xác định đúng vấn đề cần quyết định để nâng cao hiệu lực, hiệu quả các nghị quyết của HĐND; chương trình ban hành nghị quyết bám sát vào nhiệm vụ chính trị và điều kiện thực tế, khả năng thực hiện của địa phương. Đổi mới công tác điều hành của chủ tọa kỳ họp theo hướng tạo môi trường cho đại biểu phát huy trí tuệ, tinh thần trách nhiệm tham gia thảo luận, góp ý thẳng thắn về nội dung các đề án, tờ trình, dự thảo nghị quyết; chủ tọa gợi ý, định hướng xem xét những vấn đề còn những ý kiến khác nhau; có báo cáo tóm tắt để trình bày, dành thời gian thỏa đáng cho thảo luận và chất vấn, trả lời chất vấn...Trong hoạt động giám sát, nội dung cần tập trung vào những lĩnh vực bức xúc đang được cử tri quan tâm. Thường trực HĐND tham gia cùng Đoàn giám sát của các Ban HĐND để nắm bắt tình hình, chỉ đạo kịp thời nên kết quả giám sát có chất lượng và hiệu quả hơn. Sau giám sát, Thường trực, các Ban HĐND thường xuyên theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kiến nghị sau giám sát của các cơ quan, đơn vị, tránh để xảy ra tình trạng các kiến nghị sau giám sát không được thực hiện. Đối với kiến nghị chậm giải quyết, Thường trực HĐND tiếp tục có văn bản nhắc nhở, đôn đốc giải quyết.

Ngoài ra, đổi mới và nâng cao chất lượng công tác tiếp xúc cử tri; công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân; tăng cường phối hợp hoạt động đối với các ban Đảng Thành ủy, với UBND, Ủy ban MTTQ, các thành viên của MTTQ và HĐND các cấp; phối hợp và tranh thủ sự chỉ đạo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan chuyên môn của Quốc hội và Văn phòng Quốc hội./.

TÚ ANH

Lượt xem: 722

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.