Kỷ niệm 149 năm Ngày sinh V.I.Lênin (22/4/1870 - 22/4/2019): Dấu ấn của Lênin với thời đại và cách mạng Việt Nam

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Lênin về thời kỳ quá độ, Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội theo đặc điểm Việt Nam. Người chỉ ra rằng “ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử, địa lý khác. Ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội”.

Cách mạng Tháng Mười Nga thành công dưới sự lãnh đạo của Lênin mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới. Quốc tế Cộng sản - tổ chức có vai trò rất lớn trong việc thành lập các Đảng Cộng sản, thúc đẩy cuộc vận động cách mạng ở nhiều nước thuộc địa - ra đời gắn với tên tuổi của Lênin. Lênin đã mở ra một thời đại mới thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa; là người cha của cách mạng vô sản và cách mạng dân tộc giải phóng.

“Người duy nhất không mắc lỗi là người không làm gì cả… Đừng sợ thừa nhận thất bại. Hãy học từ thất bại”. V.I.Lênin

Chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất

Khi chủ nghĩa đế quốc ra đời, đó cũng là thời đại của cách mạng vô sản dưới ánh sáng của chủ nghĩa Lênin. Vận dụng và phát triển sáng tạo phương pháp luận của Các Mác, nghiên cứu bản chất của chủ nghĩa đế quốc, Lênin đề ra những luận điểm mới như cách mạng vô sản có thể thắng lợi ở một nước tư bản phát triển trung bình với ý nghĩa là khâu yếu nhất trong sợi dây chuyền toàn thế giới của chủ nghĩa đế quốc. Giai cấp vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng “bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, chủ nghĩa Mác - Lênin dần dần được truyền bá vào Việt Nam. Những người cách mạng Việt Nam đã được tiếp thu ảnh hưởng đầy sức sống của Cách mạng Tháng Mười và chủ nghĩa Mác - Lênin “tựa như người đi đường đang khát mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, từng bước quá độ dần lên chủ nghĩa xã hội.

Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười nổ ra là do sự vận động khách quan của lịch sử. Tuy nhiên, do cuộc cách mạng nổ ra ở một nước tương đối lạc hậu, nên vấn đề thời kỳ quá độ vừa có cái chung, vừa có cái riêng. Cái chung là thời kỳ quá độ có những thành phần, những bộ phận, những mảnh của cả chủ nghĩa tư bản lẫn chủ nghĩa xã hội. Cái riêng, cái đặc thù là nước Nga bước vào thời kỳ quá độ từ một điểm xuất phát thấp về trình độ kinh tế và văn hóa, tầng lớp tiểu nông chiếm đại đa số trong dân cư, giai cấp công nhân chiếm tỷ lệ thấp.

Vì vậy, theo Lênin, nước Nga ở vào một thời kỳ quá độ trong thời kỳ quá độ, tức là một thời kỳ quá độ tương đối dài, trong đó có những bước quá độ nhỏ, những nhịp cầu, những hình thức kinh tế trung gian. Đó chính là sự cần thiết và có thể sử dụng kinh tế thị trường và chủ nghĩa tư bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Nhờ vận dụng sáng tạo quan điểm của Lênin về thời kỳ quá độ, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước vượt qua nhiều khó khăn và giành những thành tựu quan trọng trong thời kỳ đổi mới. Ảnh: Bá Hoạt

Luận điểm của Lênin và sự vận dụng của Đảng ta

Chính sách kinh tế mới (NEP) là minh chứng hùng hồn cho một học thuyết khoa học và cách mạng. Lênin đã hoàn toàn đúng khi đưa nước Nga đi qua con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước để chuyển sang chủ nghĩa xã hội. Lênin đã lợi dụng chủ nghĩa tư bản, hướng nó vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước làm mắt xích trung gian giữa nền tiểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội, làm phương thức và con đường để tăng lực lượng sản xuất. Để làm tốt việc đó, Lênin nhấn mạnh đến vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, sự quản lý của chính quyền Xô Viết quyết tâm thực hiện bước chuyển, định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội.

Như vậy, theo quan điểm của Lênin, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội sẽ trải qua một thời gian dài trong lịch sử. Trong đó, các thành phần cơ bản của nền kinh tế quá độ như kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế xã hội chủ nghĩa vẫn xen kẽ với nhau. Nhà nước xã hội chủ nghĩa có vai trò, trách nhiệm làm cho thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa ngày càng chiếm vai trò chủ đạo.

Những quan điểm của Lênin đã giải tỏa một giáo điều từng tồn tại lâu dài và khá phổ biến trong những người cộng sản, cho rằng quan hệ hàng hóa - tiền tệ đồng nhất với quan hệ tư bản chủ nghĩa, nên không thể đi cùng chủ nghĩa xã hội. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Lênin về thời kỳ quá độ, Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội theo đặc điểm Việt Nam. Người chỉ ra rằng “ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử, địa lý khác. Ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội”.

Xuất phát từ thực tế Việt Nam, Người cho rằng “Nếu muốn công nghiệp hóa gấp thì là chủ quan. Cho nên trong kế hoạch phải tăng tiến nông nghiệp. Làm trái với Liên Xô, đó cũng là mácxít... Ta cho nông nghiệp là quan trọng và ưu tiên, rồi tiến đến thủ công nghiệp, sau mới đến công nghiệp nặng”.

Trong đổi mới, Đảng ta chỉ rõ “trong lãnh đạo, Đảng cũng có lúc phạm sai lầm, khuyết điểm, có những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng do giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan” (Cương lĩnh 2011). Đảng và dân tộc ta quyết tâm xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Một trong những bài học lớn Đảng ta rút ra từ đầu đổi mới là “phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan”.

Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) chỉ ra rằng “xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen”.

Chúng ta tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đặc biệt quán triệt và xử lý các mối quan hệ trong thời kỳ quá độ, như: Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa phát triển lực lượng sản xuất và từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa nhà nước và thị trường; giữa tuân thủ các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa…

Một trong những bài học lớn hiện nay là tiếp tục đổi mới toàn diện, đồng bộ, có bước đi phù hợp; tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tập trung giải quyết kịp thời những vấn đề do thực tiễn đặt ra.

Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa qua hơn 30 năm đổi mới cho thấy tầm vóc và ý nghĩa khoa học - cách mạng của đổi mới, một quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện và triệt để, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng ta, trong đó đặc biệt là sự lựa chọn đúng đắn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và nhận thức về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta, phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của thế giới.

Lượt xem: 966

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.