Làm thế nào để hoạt động giám sát của HĐND đạt hiệu qủa
Trong nửa đầu nhiệm kỳ 2011-2016 vừa qua, HĐND Thành phố đã tổ chức hàng chục cuộc giám sát trực tiếp trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, các vấn đề bức xúc tại địa phương; bên cạnh đó, các kỳ họp đều giành cho hoạt động chất vấn của đại biểu. Hoạt động giám sát của HĐND TP đã đạt được nhiều kết quả góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển Thủ đô.
Giám sát là một trong hai chức năng chủ yếu của Hội đồng nhân dân. Trong nửa đầu nhiệm kỳ 2011-2016 vừa qua, HĐND Thành phố đã tổ chức hàng chục cuộc giám sát trực tiếp trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, các vấn đề bức xúc tại địa phương; bên cạnh đó, các kỳ họp đều giành cho hoạt động chất vấn của đại biểu. Hoạt động giám sát của HĐND Thành phố đã đạt được nhiều kết quả góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển Thủ đô. Để giám sát của HĐND trong thời gian tới đạt hiệu quả tốt hơn, từ thực tiễn xin đưa ra một số giải pháp sau đây: Thứ nhất, phải hiểu cho sâu sắc giám sát và quyết định là hai chức năng chủ yếu, quan trọng nhất của HĐND; bổ trợ cho nhau; giám sát tốt cũng là để có quyết định đúng pháp luật, khả thi. Giám sát là biện pháp đánh giá việc thực thi pháp luật, thực thi Nghị quyết của HĐND. Bởi vậy muốn giám sát cần xác định rõ: Phạm vi, đối tượng giám sát thuộc thẩm quyền của HĐND, Đại biểu HĐND, Thường trực HĐND và các Ban HĐND? Mục đích giám sát để làm gì? Các hình thức giám sát ? Vận dụng hình thức giám sát thế nào cho phù hợp từng lĩnh vực, đối tượng, thời gian? Quy trình lựa chọn và thực hiện giám sát bằng hình thức chất vấn, giám sát bằng hình thức thành lập Đoàn; Giám sát gián tiếp thông qua báo cáo; TXCT, tiếp công dân; giám sát thường xuyên và đột xuất được thực hiện thế nào? Giám sát là hành vi thể hiện quyền lực của nhân dân. HĐND là cơ quan dân cử - độc lập về vị thế, tổ chức với cơ quan chấp hành và sử dụng quyền lực và nguồn tin công cộng (ý kiến cử tri, công luận) độc lập với cơ quan chấp hành. Do đó hoạt động giám sát của HĐND cần giữ vị thế khách quan và có tiêu chí hướng tới mục đích đã đề ra khi hoạch định chính sách. Việc này hỗ trợ cơ quan chấp hành nhiều hơn là "kiềm chế" họ, cản trở sáng tạo của họ. Trên thực tế, thời gian thảo luận chính sách rất hạn hẹp dẫn đến việc HĐND chỉ chú ý tới các đề xuất cụ thể hoặc con số mà ít chú ý tới chính sách và mục đích, tiêu chí thành công của chính sách. Vị thế khách quan sẽ bị giảm sút, khi các đại biểu can thiệp sâu vào quá trình triển khai thực hiện công việc. Phải phân biệt cho đúng thế nào là giám sát và thế nào là kiểm tra.Hiện nay nhiều nơi một số đại biểu HĐND coi giám sát như là kiểm tra, tức là phải bám vào việc cụ thể hàng ngày của UBND, do đó họ tham gia quá sâu vào công việc hành chính thường nhật, ví dụ can thiệp bố trí nhân lực, ngân sách cụ thể cho những hoạt động thực thi. Điều này có thể làm giảm tác dụng giám sát, gây cảm giác không tin cậy và chồng chéo chức năng với nhân viên của cơ quan chấp hành. Điều cần lưu ý ở đây, là đại biểu dân cử không nên tham gia quá sâu vào công việc hành chính thường nhật. Hai vấn đề lớn nhất mà người giám sát thường gặp là tham gia quá sâu và tham gia chưa đầy đủ. Nếu tham gia quá sâu sẽ làm giảm thẩm quyền và trách nhiệm đơn vị thực thi chính sách. Tham gia chưa đầy đủ lại bị nhìn nhận là trốn tránh trách nhiệm. Cả hai thái cực hành vi này đều làm cản trở tiến trình thực hiện công việc. Thứ hai, phải xác định giám sát là việc đánh giá tính hiệu quả và hiệu năng hoạt động của chính quyền địa phương. Dó đó trước khi tổ chức giám sát cần có thông tin kip thời và xác thực. Xác định trúng và đúng vấn đề cần giám sát. Hiệu quả là làm một việc đúng, và đồng thời làm việc đó theo đúng cách thức, có năng suất. Như vậy, để hoạt động có hiệu quả thì đại biểu dân cử không những chỉ biết chọn đúng việc để quyết mà còn phải cân nhắc quyết định cả cách làm đúng, chi phí thời gian, tiền bạc và nhân lực hợp lý để đạt mục đích của chính sách dự án đã quyết định. Tương tự như vậy, cơ quan chấp hành không những chỉ quan tâm tới việc thực hiện đúng "việc" đã được HĐND "quyết" mà cũng phải thường xuyên kiểm tra xem các biện pháp tổ chức thực thi có được làm đúng cách thức, tiêu chuẩn, chế độ, có hướng tới mục đích hay không? Kinh nghiệm từ những cuộc giám sát thành công cho thấy, để giám sát đạt hiệu quả cao thì việc thu thập thông tin là rất cần thiết. Các cuộc giám sát thành công đều bắt đầu từ việc nắm chắc thông tin và các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, để thực hiện tốt điều này, đại biểu phải biết lắng nghe thông tin từ phía cử tri và phân tích, đánh giá tính chính xác thông tin, đồng thời đối chiếu với các quy định pháp luật để xem xét vấn đề một cách toàn diện trước khi kết luận. Để giúp đại biểu có thể thu thập và xử lý thông tin, đáp ứng yêu cầu giám sát, các đại biểu cần được tập huấn thường xuyên hơn về công tác này. Bản thân mỗi đại biểu cũng cần trau dồi kiến thức, nâng cao hiểu biết về pháp luật. Ví dụ khi giám sát việc thực hiện chương trình và chính sách là một quá trình nghiêm ngặt hơn. Người giám sát hiệu quả cần có một hệ thống công cụ quản lý, theo dõi để giám sát công việc. Có một số người chỉ tập trung vào công cụ quản lý là dữ liệu (số lượng) mà lại không lượng hóa được tiêu chí chất lượng; ví dụ quan tâm đến số vốn cho vay xóa đói giảm nghèo mà chưa quan tâm lắm tới tiêu chí đánh giá chỉ số hiệu quả dùng vốn như thế nào. Là người giám sát, người đại biểu cần xác định các dữ liệu và thông tin, tiêu chí đánh giá cần thiết để giám sát tiến trình thực hiện chính sách hoặc chương trình; cố gắng bỏ sang bên cạnh những yếu tố chính trị và quản lý để tập trung vào dữ liệu và tiêu chí cụ thể để đánh giá có đạt kết quả hay không… Thời gian của hoạt động giám sát của HĐND không nhiều, trong khi đó hoạt động của chính quyền có rất nhiều nội dung, tập trung giám sát tất cả là điều không thể đối với HĐND và cách làm đó không hiệu quả. Vì vậy, xác định thứ tự ưu tiên giám sát, chọn đúng và trúng để định rõ nội dung cần giám sát, quy mô giám sát là rất quan trọng. HĐND phải biết chọn đúng việc, sử dụng các công cụ thích hợp theo chức năng, vai trò của mình; phải tổ chức hoạt động giám sát để phát huy tiếng nói đại diện và vị thế độc lập để việc giám sát có ý nghĩa tác động tích cực tới hoạt động hoạch định chính sách và hỗ trợ hiệu quả hoạt động của cơ quan chấp hành. Do đó, nếu không biết chọn trọng tâm mà chỉ dàn trải các hoạt động giám sát về bề mặt sẽ dẫn đến tình trạng “nói để làm ví dụ răn đe”, thiếu tính xây dựng, không làm cơ quan chấp hành hợp tác để đạt mục đích chung tốt hơn. Tuy nhiên, có một thực tế trong việc công, nhiều khi các lợi ích đan xen, xung đột với nhau nên khó xác định ưu tiên. Những cải cách tạo ra động lực cho hệ thống thì nên tập trung giám sát, chẳng hạn: Việc phân cấp, phân quyền; Tài chính công tương ứng với việc phân cấp, phân quyền; Thăm dò ý kiến nhân dân; Chính sách một cửa; Việc quản lý đất đai; Phòng chống tham nhũng... Cần lựa chọn những vấn đề mà đa số cử tri quan tâm, cụ thể là những chương trình, dự án có ảnh hưởng đến quyền lợi của nhân dân; Các vấn đề liên quan đến cải cách thủ tục hành chính, việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước…Với từng nội dung giám sát, Đoàn giám sát cũng phải đưa ra những yêu cầu cụ thể, ví dụ: Đã làm được gì? Chưa làm được gì? Tại sao? Ai chịu trách nhiệm? v.v… Thứ ba, trong giám sát phải xác định rõ trách nhiệm và phân công cụ thể việc cho đại biểu là thành viên. Đồng thời cần chú trọng công tác phối hợp, hợp tác trong quá trình giám sát. Hiện nay, số đại biểu chuyên trách của HĐND thành phố là 13/95 người, chiếm 14,5%; ở cấp huyện mới chỉ có từ 2 đến 5 đại biểu chuyên trách. Khi thành lập Đoàn giám sát của Thường trực hay của các Ban HĐND vẫn phải mời thêm một số đại biểu kiêm nhiệm và các chuyên gia tùy theo từng lĩnh vực. Tuy nhiên, trách nhiệm chính vẫn thường phó thác cho một đại biểu chuyên trách, được coi là “có thời gian nghiên cứu; có kiến thức chuyên môn” trong một số lĩnh vực cụ thể, hoặc giao cho những chuyên gia thường quan tâm các công việc sự điều hành của cơ quan chấp hành. Nhiều Đoàn giám sát để chạy việc, cho đảm bảo chương trình nghị quyết về giám sát, khi thành lập Đoàn giám sát thường mời đại biểu tham gia cho đủ đội hình sẽ dẫn đến hoạt động giám sát mang tính hình thức hoặc phó thác cho một số ít đại biểu chuyên trách trong hội đồng. Xu hướng này cần tránh bởi vì hoạt động giám sát của HĐND là một công cụ quyền lực mang tính chất tập thể và do đó phải được tất cả các thành viên trong hội đồng tham gia đều tay; và nên chú trọng mời các chuyên gia thuộc các lĩnh vực chuyên sâu tham gia Đoàn giám sát. Trách nhiệm giám sát rất quan trọng nên không thể giao cho một vài đại biểu hay “chuyên gia” trong một lĩnh vực cụ thể, hoặc những người chỉ muốn giám sát các hoạt động bề nổi, mà cần phải được tất cả các thành viên trong HĐND ủng hộ. Đại biểu HĐND khi giám sát luôn biết rằng xung đột là điều tất yếu, nhất là đối với những chính sách và ý tưởng mới. Với nhận thức như vậy, thì sự bất đồng hoặc hiểu khác nhau khi thực thi là một dấu hiệu lành mạnh chỉ ra rằng, công việc đang tiến triển và mọi người đang tiếp cận theo các lựa chọn thực tế khác nhau. Chính vì nó tất yếu, nên người đại biểu dân cử trong vai trò giám sát phải dự liệu trước cách thức quản lý xung đột để giúp cơ quan chấp hành tự giải quyết xung đột … Giữa cơ quan dân cử với cơ quan hành chính thực hiện có sự phụ thuộc lẫn nhau, cần phối hợp để nâng cao hiệu quả của chính quyền. Giữa cơ quan dân cử và các đoàn thể chính trị xã hội cũng cần phải có sự phối hợp thường xuyên, trên cơ sở chức năng nhiệm vụ được giao và trên cơ sở sự lãnh đạo của cấp ủy địa phương. Với HĐND và UBND là hai trong một thực thể thống nhất là: Chính quyền địa phương; tuy nhiên hai cơ quan hoàn toàn độc lập về chức năng. Được trao quyền giám sát, đại biểu HĐND hãy đừng ngạc nhiên quá mức và đừng quá mất thời gian tranh cãi về các quan điểm khác nhau có thể xảy ra trong cách tiếp cận thực hiện chính sách giữa HĐND và UBND, hãy chủ động thương thuyết tháo gỡ các cản trở tiến trình thực hiện chính sách đó. Thứ tư, để giám sát có hiệu quả Thường trực HĐND phải phát huy được vị trí, vai trò là trung tâm chỉ đạo điều hành phối hợp. Trong giám sát cần có phối hợp giữa Thường trực với các ban HĐND và giữa các ban HĐND với nhau. Luật tổ chức HĐND và UBND, Quy chế hoạt động của HĐND không quy định cụ thể về vấn đề này mà chỉ quy định về việc hàng quý, Thường trực HĐND tổ chức họp với Trưởng ban, Phó trưởng ban để phối hợp hoạt động giám sát, đánh giá về tình hình và kết quả hoạt động giám sát (khoản 4, điều 63 Quy chế hoạt động của HĐND). Thực tiễn đòi hỏi ngoài trách nhiệm chủ trì điều hành thì chính Thường trực cũng cần có sự phối hợp với các Ban HĐND. Đối với các Ban HĐND, theo quy định các Ban có chức năng, nhiệm vụ khác nhau, nhưng khi tiến hành hoạt động giám sát chuyên đề lại có những vấn đề liên quan và cần thiết phải phối hợp với nhau. Ví dụ, giám sát việc thực hiện Nghị quyết về chương trình xây dựng nông thôn mới là lĩnh vực của Ban Kinh tế và Ngân sách chủ trì, nhưng trong 19 tiêu chí, có tiêu chi thuộc lĩnh vực chuyên sâu của Ban Văn hóa - Xã hội và Ban Pháp chế. Nếu các ban HĐND tăng cường sự phối hợp thì cuộc giám sát mới đạt kết quả toàn diện. Hoặc giám sát thực hiện việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai, cùng với Ban Pháp chế giám sát việc thi hành pháp luật thì Ban Kinh tế và Ngân sách cũng có trách nhiệm phối hợp vì lĩnh vực giám sát liên quan đến tài nguyên, nằm trong nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Kinh tế và Ngân sách... Cuối cùng, phải rất lưu ý giám sát việc thực hiện kết luận sau giám sát và nếu xét thấy cần thiết thì phải tái giám sát. Hầu hết các trường hợp giám sát hiệu quả của một chính sách đều phải giám sát hiệu quả thực tế trong quá trình thực hiện (giám sát sau quyết định); nhưng rồi kết quả giám sát này lại trực tiếp phục vụ hình thành quyết định mới. Hiệu quả của chính sách khó đánh giá hơn, vì nó liên quan tới việc đánh giá xem nhà hoạch định chính sách lựa chọn phù hợp với nhu cầu thực tế trong điều kiện các nguồn lực khan hiếm hay không. Để có kết luận sau giám sát là cả một quá trình xem xét, đối chiếu, tư duy từ quy định của pháp luật đến thực tế của địa phương. Nếu kết luận sau giám sát không được thực hiện nghiêm túc, có nghĩa là: Tính quyền lực của cơ quan dân cử bị xem nhẹ… Nếu cứ để tình trạng này xảy ra, nhân dân sẽ không còn đặt niềm tin vào cơ quan đại diện cho mình nữa. Bời vậy, kết luận giám sát phải làm sao cho đối tượng được giám sát “Tâm phục, khẩu phục”; sau giám sát phải đôn đốc thực hiện các kết luận; khi xét thấy cần thiết thì tái giám sát. Đây cũng là việc bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh. Đây cũng là việc nâng cao uy tín, vị thế của HĐND nói riêng và của chính quyền địa phương./. NGUYỄN XUÂN DIÊNLượt xem: 1003
Bình luận bài viết
Chưa có bình luận nào.