Làm thế nào để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động chất vấn của đại biểu HĐND

Hoạt động chất vấn là quyền và hình thức giám sát trực tiếp của đại biểu HĐND tại nghị trường. Theo Điều 41 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định “đại biểu HĐND có quyền chất vấn chất vấn Chủ tịch HĐND, Chủ tịch và các thành viên khác của UBND, Chánh án TAND, Viện trưởng Viện KSND và thủ trưởng các cơ quan thuộc UBND cùng cấp, người bị chất vấn phải trả lời trước HĐND trong thời gian do luật định”.

    Nguyễn Xuân Diên

                           Phó Chánh Văn phòng Đoàn ĐBQH&HĐND TP Hà Nội

Hoạt động chất vấn là quyền và hình thức giám sát trực tiếp của đại biểu HĐND tại nghị trường. Theo Điều 41 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định “đại biểu HĐND có quyền chất vấn chất vấn Chủ tịch HĐND, Chủ tịch và các thành viên khác của UBND, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và thủ trưởng các cơ quan thuộc UBND cùng cấp, người bị chất vấn phải trả lời trước HĐND trong thời gian do luật định”. Trong các kỳ họp Hội đồng nhân dân, phiên chất vấn và trả lời chất vấn là phiên họp quan trọng. Thường thì các kỳ họp HĐND cấp tỉnh, thành phố tổ chức truyền hình trực tiếp cả kỳ họp, nhưng cũng có nơi chỉ truyền hình phiên khai mạc và phiên chất vấn. Ở cấp quận, huyện chủ yếu qua hệ thống truyền thanh. Đây cũng là một nội dung mang tính chất thời sự, được đông đảo cử tri, các tầng lớp nhân dân, các cơ quan thông tấn, báo chí trong và ngoài nước chú ý theo dõi, bình luận và đánh giá không chỉ đối với người chất vấn, người trả lời chất vấn, người điều hành kỳ họp, mà còn coi đó là một yếu tố rất quan trọng đánh giá vai trò, vị trí của HĐND - cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, là diễn đàn dân chủ, thể hiện vai trò tích cực của từng đại biểu HĐND cũng như trách nhiệm của lãnh đạo các cơ quan đối với những vấn đề mà cử tri quan tâm. Qua chất vấn của đại biểu, nhiều vấn đề nổi cộm, bức xúc ở địa phương đã được giải quyết.

 Ở thành phố Hà Nội và một số địa phương khác, khi hỏi cử tri quan tâm đến lĩnh vực hoạt động nào của đại biểu và của HĐND? Đa số cử tri đều trả lời họ rất quan tâm đến các kỳ họp của HĐND, trong đó đặc biệt chú ý theo dõi hoạt động chất vấn tại kỳ họp. Chất vấn đúng người, đúng việc, rõ ràng và cụ thể, đúng tâm tư nguyện vọng của cử tri và các tầng lớp nhân dân, đúng luật càng chứng tỏ người đại biểu có trình độ, trí tuệ, có tâm huyết, trách nhiệm và bản lĩnh. Qua hoạt động chất vấn mà  nhiều đại biểu đã được nhân dân cảm phục và bình bầu lưu truyền nhất ông này, nhì ông nọ, ba ông kia, bốn bà kìa…Ngược lại, cũng có đại biểu chất vấn hời hợt, lạc hướng, đưa ra những chứng lý kém thuyết phục, không thực tế  khiến cho cử tri và dư luận đánh giá người đại biểu thật không xứng đáng với lá phiếu bầu của cử tri. Thực tế khi tiếp xúc cử tri ở một số đơn vị bầu cử, có cử tri đặt câu hỏi tại sao ông đại biểu ấy, bà đại biểu ấy chất vấn lạ kỳ vậy?  Tại sao khi vận động bầu cử, ông ấy, bà ấy hứa rất bản lĩnh, hùng hồn, vậy mà gần hết nhiệm kỳ chả thấy ông ấy, bà ấy đăng đàn chất vấn. Tại sao, tại sao ư? Có rất nhiều nguyên nhân như: Thiếu thông tin về vấn đề cần chất vấn; kiến thức pháp luật liên quan còn hạn chế, cách trình bày ý kiến chất vấn dàn trải, không ngắn gọn, rõ ràng, không trọng tâm, trọng điểm khiến cho người bị chất vấn cũng khó trả lời. Cũng có trường hợp đại biểu chất vấn sai hoặc nội dung chất vấn đã được “thông cung” từ trước. Một số đại biểu thì mặc cảm với tâm lý bị cho là gây không khí căng thẳng trong kỳ họp. Cũng có trường hợp đại biểu ngại chất vấn chỉ vì nỗi sợ đụng chạm, sợ sau chất vấn liên luỵ đến bản thân, …Có đại biểu một vài kỳ họp đầu rất hăng hái chất vấn, nhưng các kỳ sau lặng lẽ ngồi, bởi chất vấn không những không được trả lời thoả đáng, kết quả sau chất vấn đối với những vấn đề đã nêu xem ra còn trầm trọng hơn, nhưng không ai nhận lỗi, không quy được trách nhiệm cho ai. Rồi hình như trong một số đại biểu do thiếu bản lĩnh và trách nhiệm trước cử tri và nhân dân nên vẫn có nếp nghĩ chất vấn sợ bị đánh giá là soi mói, không bình thừờng; sợ “đụng chạm” nên né tránh, xuôi chiều. Thực tế qua theo dõi hoạt động đại biểu HĐND ở thành phố Hà Nội và hầu hết các địa phương, có đến trên 70% số đại biểu cả nhiệm kỳ không có câu chất vấn nào và cũng không đăng đàn tham gia chất vấn tại kỳ họp. Ở cấp huyện và cấp xã hoạt động chất vấn có thể nói là chất lượng, hiệu quả còn thấp. Làm thế nào để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động này, đây là vấn đề lớn cần được quan tâm có các giải pháp thiết thực.

            Muốn có được phiên chất vấn tại kỳ họp HĐND thì trước hết phải có được các nội dung chất vấn do đại biểu đề xuất. Làm thế nào để đại biểu có câu chất vấn đúng pháp luật, đúng thực tế, đúng trọng tâm, trọng điểm gửi Thường trực HĐND cùng cấp để tổng hợp, lựa chọn. Muốn vậy, trước hết người đại biểu phải dành thời gian nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật, nắm vững được nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND và UBND các cấp, quyền và trách nhiệm của đại biểu HĐND; nắm vững nội dung Nghị quyết của HĐND đã ban hành tại các kỳ họp; hiểu biết về tình hình và khả năng của địa phương và mỗi đơn vị trong việc thực hiện các nghị quyết của HĐND lĩnh vực nhiệm vụ của đại phương. Giữa hai kỳ họp, đại biểu cần tăng cường tham gia hoạt động giám sát và tiếp xúc với cử tri, tiếp công dân, lắng nghe và chú ý đến dư luận trong nhân dân, trên các phương tiện thông tin đại chúng để phân tích và chắt lọc cái đúng, cái sai, chứng cứ,…  Đại biểu HĐND phải dành thời gian tập trung đọc và nghiên cứu kỹ các báo cáo sẽ được trình tại kỳ họp để tự phân tích, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của địa phương; công tác chỉ đạo, quản lý, điều hành của UBND và các ngành liên quan; nhận định được nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến kết quả hoàn thành hoặc không hoàn thành nhiệm vụ của địa phương, từng đơn vị. từ đó đối chiếu với các quy định của pháp luật, các quy định của địa phương để hình thành câu chất vấn. Bên cạnh đó, các hoạt động của Thường trực HĐND, các ban HĐND như: Giám sát, khảo sát, tổ chức các hoạt động chuyên đề hoặc trao đổi kinh nghiệm với các địa phương khác nên tạo điều kiện để đại biểu được tham gia. Đồng thời chú trọng đến công tác bồi dưỡng, cung cấp các thông tin, tập huấn nâng cao kỹ năng hoạt động đại biểu, trong đó có kỹ năng hoạt động chất vấn.

Thường mỗi kỳ họp HĐND cấp tỉnh, cấp huyện chỉ dành một nửa ngày (một phiên họp) cho hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn, có thể nói là chưa thỏa đáng. Có nơi, chủ tọa kỳ họp đôi khi né trách những “vấn đề nóng” mà đại biểu chất vấn; bên cạnh đó điều hành không khoa học, không phát huy được tính dân chủ cũng làm cho hoạt động chất vấn của đại biểu hạn chế. Nhìn chung, thời gian qua việc tổ chức chất vấn tại kỳ họp HĐND ở nhiều địa phương còn mang tính hình thức; làm cho các kỳ họp HĐND kém hấp dẫn đối với cử tri. Nếu HĐND không tỉnh táo và sáng suốt thì vô hình chung kỳ họp chỉ là hợp pháp hoá cho những chủ trương, chính sách không phù hợp pháp luật, không thực tế và kém hiệu quả. Tại kỳ họp, để phiên chất vấn có chất lượng, đạt được mục đích, chủ toạ kỳ họp phải đổi mới phương pháp điều hành, sau khi lựa chọn được các nội dung cần chất vấn, phải phân chia thời gian phù hợp, hướng người chất vấn và trả lời chất vấn vào nội dung chính, trọng tâm, trọng điểm, cắt bớt những vấn đề không quan trọng khác. Chủ toạ kỳ họp cần động viên, khích lệ các đại biểu, tạo không khí cởi mở, với ý thức xây dựng, vì nhiệm vụ chung giữa người chất vấn và người được trả lời chất vấn, xóa đi mặc cảm về tâm ký của người đại biểu, của những người thuộc đối tượng được chất vấn. Đây được coi như kỹ năng, kinh nghiệm của Thường trực HĐND – chủ tọa kỳ họp. Tuy nhiên, khi nội dung chất vấn của đại biểu không được trả lời thoả đáng, chủ tọa có thể có thể tái chất vấn tại kỳ họp tiếp sau, hoặc có những biện pháp giám sát khác. Ngoài ra, cần đổi mới nội dung chương trình từng kỳ họp HĐND, không nhất thiết cứ theo thứ tự, tuần tự cũ; cần phân phối thời gian phù hợp cho hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn,

Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn có chất lượng và hiệu quả hay không, trách nhiệm này còn phụ thuộc về cá nhân từng đại biểu HĐND. Đành rằng cái câu ngạn ngữ “trung ngôn nghịch nhĩ” đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị thực. Nhưng, người đại biểu cần ghi nhớ trước khi được cử tri bầu mình đã hứa hẹn thế nào, thì khi đã là đại biểu rồi hãy nặng vì cái chung chứ không phải nặng vì cái riêng. Làm đại biểu, không chất vấn thì thôi chứ đã chất vấn thì phải “nói có sách, mách có chứng”; phải hiểu và nắm được tường tận hoặc tương đối tường tận cái cần chất vấn. Nếu chỉ cưỡi ngựa xem hoa, hoặc kiểu như mấy “Ông mù xem voi” thì chất vấn chỉ làm giảm uy tín của người đại biểu và vị thế của HĐND, khiến cho cử tri thất vọng. Vì vậy, ngoài các yếu tố bảo đảm, nâng cao hiệu quả chất vấn nêu trên, thì còn một yếu tố nữa là bản lĩnh, trí tuệ, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của người đại biểu trước cử tri và nhân dân. Bên cạnh đó cần xem xét sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật đảm bảo tăng số đại biểu chuyên trách, hạn chế số đại biểu kiêm nhiệm ở các cấp HĐND, tránh cho đại biểu bị chi phối trong hoạt động thực hiện các quyền và nhiệm vụ, tránh các áp lực khi giám sát bằng hình thức chất vấn. Đây được coi là yếu tố có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả của hoạt động giám sát bằng hình thức chất vấn.

       Từ thực tế hoạt động của HĐND thành phố Hà Nội và nhiều địa phương khác trên cả nước, hoạt động chất vấn của đại biểu HĐND tại kỳ họp đã và đang được cử tri và nhân dân quan tâm, tin tưởng. Việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động chất vấn của đại biểu HĐND cần được quan tâm coi trọng hơn nữa, đây cũng chính là biện pháp quan trọng nhằm phát huy dân chủ, nâng cao vị trí, vai trò, uy tín của HĐND trong bộ máy chính quyền ở địa phương. 

Lượt xem: 476

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.