Luận bàn về lời hứa và việc thực hiện lời hứa của người đại biểu, người đại diện cơ quan, tổ chức

Một vị đại biểu của HĐND tỉnh N có ghi chép, thống kê và kết luận: Lời hứa của người đại biểu, người đại diện cơ quan, tổ chức, do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau nên chỉ có 10% lời hứa được thực hiện đúng, 40% lời hứa thực hiện nửa vời, còn lại 50% là hứa xuông, hứa xong để đó, lợi dụng lời hứa như một tiểu xảo làm nguôi những kiến nghị bức xúc lúa bấy giờ. Tuy số liệu này chỉ có ý nghĩa tham khảo. Nhưng sự thật khó phủ nhận và kỳ lạ là từ trước đến nay không ai làm rõ để truy trách nhiệm về lời hứa xuông.

Một vị đại biểu của HĐND tỉnh N có ghi chép, thống kê và kết luận: Lời hứa của người đại biểu, người đại diện cơ quan, tổ chức, do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau nên chỉ có 10% lời hứa được thực hiện đúng, 40% lời hứa thực hiện nửa vời, còn lại 50% là hứa xuông, hứa xong để đó, dùng lời hứa như một "tiểu xảo" làm nguôi những kiến nghị bức xúc lúc bấy giờ. Tuy số liệu này chỉ có ý nghĩa tham khảo. Nhưng sự thật khó phủ nhận và kỳ lạ là từ trước đến nay không ai làm rõ để truy trách nhiệm về lời hứa xuông.

Trong đời, ai chẳng ít nhất một lần được nghe những lời hứa hẹn và chẳng ai là không có lời hứa hẹn. Nhưng không phải lời hứa nào cũng được thực hiện. Cuộc sống vốn nhiều bất trắc khó lường. Rất nhiều giấc mơ dang dở vì lời hứa. Rất nhiều mộng ước vỡ tan cũng vì lời hứa; và trên thực tế không ít những lời hứa chìm vào quên lãng, hứa xuông hoặc vì lý do nào đó mà không thể thực hiện... Có thể với người này lời hứa cũng chỉ đơn giản là “Lời nói gió bay ...”.Nhưng với người khác lời hứa đôi khi lại mang một ý nghĩa vô cùng sâu sắc “như dao chém đá, như đinh đóng cột”...

Đúng là ai cũng có thể hứa. Nhưng ở đây chỉ đề cập đến hứa hẹn trong lĩnh vực công quyền, đó là: Việc người đại biểu (có người là đại biểu Quốc Hội, đại biểu HĐND kiêm nhiệm), người đại diện các cơ quan, tổ chức hứa và thực hiện thế nào trước dân, trước cử tri và việc giám sát những lời hứa đó ra sao

Theo Luật Tổ chức Quốc Hội và Luật Tổ chức HĐND và UBND các cấp thì trong một năm Quốc Hội, HĐND có hai cuộc họp thường lệ và tuỳ theo tình hình nhiệm vụ mà có các kỳ họp chuyên đề hoặc bất thường. Trước và sau các kỳ họp các đại biểu đều phải tiếp xúc cử tri (TXCT). Ấy là chưa kể đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND còn có quyền và nhiệm vụ tiếp xúc cử tri nơi cư trú, nơi làm việc và tiếp xúc cử tri chuyên đề. Khi đại biểu TXCT có đại diện chính quyền sở tại và các cơ quan, tổ chức liên quan tham dự. Như vậy trong một năm, người đại biểu nhân dân, người đại diện các cơ quan, tổ chức có ít nhất từ hai đến bốn lần được nói ra lời hứa quan trọng của mình trước nhân dân và trước các cử tri, đó là: Khi tiếp xúc trực tiếp hứa với cử tri ở cơ sở và khi trả lời chất vấn, hứa tại các kỳ họp.

Được dự các buổi tiếp xúc cử tri mới thấy, việc được gặp gỡ và đề đạt với những người có trách nhiệm xem xét giải quyết những vấn đề của cộng đồng, của gia đình và cá nhân là niềm ao ước của mỗi cử tri. Nhiều nơi cử tri đến chật sân đình, nhà văn hoá, trụ sở UBND cấp xã…Họ không câu nệ về việc được ngồi hay đứng. Cử tri đến, mang theo niềm tin vào người họ bầu ra, người được nhân danh các cơ quan, tổ chức công quyền. Vì vậy, họ rất nhớ những gì mà người đại biểu, người đại diện các cơ quan, tổ chức nói và hứa. Có nơi, cuộc tiếp xúc kéo dài cả ngày, cả buổi; một số đại biểu, đại diện cho cơ quan, tổ chức rất có trách nhiệm với việc trả lời, hứa hẹn. Nhưng cũng có nhiều nơi tiếp xúc cử tri mang nặng hình thức, đơn điệu, không chất lượng, việc trả lời và hứa của đại biểu, của đại diện các cơ quan, tổ chức chỉ miễn sao cho nhanh xong, vô cảm, thiếu trách nhiệm, chỉ đáng ghi thành tích về số lần mà thôi.

Có cử tri bức xúc nói: “Năm trước tại nhà văn hóa này các bác ấy bảo việc cử tri đề nghị xử lý Doanh nghiệp A đổ nước thải công nghiệp gây ô nhiễm cho ao Đình thôn Đoài chỉ là chuyện nhỏ, đầu năm tới sẽ giải quyết xong. Năm nay các bác ấy lại về, lại hứa, nhưng lại bảo việc cũ của thôn Đoài phải một vài năm tới mới giải quyết xong”. Thật không thể hiểu nối. Hình như người đại biểu, người đại diện cho cơ quan, tổ chức không tôn trọng với chính cả lời hứa của mình.

Lại có cử tri nói: “Mỗi lần Quốc hội, HDND tỉnh họp là bà con làng tôi mừng lắm, tập trung theo dõi hết buổi chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp. Nhiều ông bà đại diện các cơ quan nhà nước đương quyền lên trả lời hùng hồn lắm, mọi vấn đề bức xúc của dân như: Việc xử lý các sai phạm, tham nhũng, việc thu hồi đất canh tác để giao cho doanh nghiệp làm đô thị, việc đền bù và tạo công ăn việc làm đều được giải quyết thoả đáng, dễ như thò tay vào túi lấy vật. Ai dè, ông bà ấy trả lời là để cho im dư luận. Thực tế, thì ngược lại; hoặc chẳng thực hiện được bao nhiêu. Nhưng chẳng ai xử phạt được việc làm không đúng lời hứa, làm sai lời hứa.”. Mặc dù những vấn đề cử tri kiến nghị rất cụ thể, đại biểu chất vấn rất rõ “nói có sách, mách có chứng” , nhưng câu trả lời và lời hứa của đại diện các cơ quan tổ chức dùng rất nhiều từ: “sẽ làm - đang làm - sắp làm – nghiên cứu – xem xét …” hứa hoài, hứa mãi mà sự việc, vấn đề kiến nghị vẫn “dậm chân tại chỗ”.

Có thể dẫn ra hàng trăm vấn đề bức xúc đòi hỏi mà cử tri, đại biểu đề nghị, kiến nghị nhưng chẳng đạt kết quả là bao hoặc không đạt kết quả… Đó là: Làm thế nào để hạn chế và xử lý nghiêm hành vi tham nhũng?  Làm thế nào để hạn chế và xử lý nghiêm tình trạng lãng phí nguồn lực như đất đai, tài sản công, nhân lực…? Làm thế nào để  xử lý trách nhiệm của người đứng đầu khi ban hành quyết định sai trái gây hậu quả xấu? Làm thế nào để xử lý ô nhiễm môi trường nước, không khí ở đô thị, làng nghề? Làm thế nào để chống hàng nhập lậu, hàng giả; đảm vệ sinh an toàn thuốc chữa bệnh và thực phẩm? …Đáng buồn là có nơi chỉ vì lời hứa và việc làm không đúng: “Hứa một đằng, cam kết một đằng, làm một nẻo” hoặc có việc xử lý, giải quyết ngay được nhưng lại không làm nên từ chuyện nhỏ thành chuyện lớn, người dân quá bức xúc làm đơn tố cáo gừi khắp các cơ quan, tổ chức; nơi đó đang yên lành trở thành “điểm nóng”. Cũng có vấn đề đáng phải suy nghĩ là khi trả lời, khi hứa người đại biểu hoặc người đại diện cơ quan tổ chức chưa thấy hết được các yếu tố “cần và đủ”; do đó khi thực hiện gặp vướng mắc, cản trở, thành ra “lực bất tòng tâm” mà không thể làm được.

Một vị đại biểu tâm huyết của HĐND tỉnh N có ghi chép, thống kê và kết luận: “Chỉ có 10% lời hứa được thực hiện đúng, 40% lời hứa thực hiện nửa vời, còn lại 50% là hứa xuông, hứa xong để đó, dùng lời hứa như một "tiểu xảo" làm nguôi những kiến nghị bức xúc lúc bấy giờ.” Tuy số liệu này chỉ có ý nghĩa tham khảo. Nhưng sự thật là, trước đến nay không ai làm rõ để truy trách nhiệm về lời hứa xuông. Ngay cả trong kỳ họp của Quốc Hội, HĐND, ít nơi làm được việc chỉ đạo phải lưu lại được lời hứa của kỳ họp trước để kiểm điểm tại kỳ họp sau với một thái độ kiên quyết. Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội nhiệm kỳ 2011-2016 cũng đã làm được việc: Yêu cầu UBND thành phố báo cáo kết quả kết luận tại phiên chất vấn kỳ trước. Tuy nhiên, báo cáo của UBND vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu kết luận của Chủ tọa kỳ họp. Hình như đây là một căn bệnh trầm kha của các cơ quan công quyền, lâu nay không mấy ai tự sửa chữa, hoặc người có thẩm quyền để ý xử lý. Một điều đáng phải nói đến là trong hệ thống các văn bản pháp luật của nhà nước ta, không có văn bản nào chứa quy phạm quy định chế tài đối với việc hứa không đúng, làm không đúng lời hứa hoặc hứa nhưng không làm… Do đó, việc không tôn trọng lời hứa, hứa với động cơ không trong sáng, hoặc hứa nhưng không làm đã làm cho uy tín của cá nhân người đại biểu, người đại diện cho cơ quan, tổ chức công quyền, và làm cho uy tin của chính cả cơ quan, tổ chức đó suy giảm, ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả, hiệu lực công tác quản lý nhà nước, quản lý xã hội…

Phát ra lời hứa thật dễ và cũng thật khó. Để lời hứa có trọng lượng, trở thành hiện thực, nâng cao vị thế của các cơ quan công quyền và hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, tạo dựng niềm tin đối với nhân dân, thiết nghĩ trách nhiệm này vẫn phải khẳng định trước hết thuộc về người hứa. Họ có thể là đại diện cơ quan tổ chức, hoặc với tư cách cá nhân. Người hứa phải biết mình đang đứng ở vị trí nào, phải có tự trọng, động cơ, mục đích trong sáng, nghĩ thấu đáo: Đã thấu hiểu vấn đề cử tri kiến nghị, đại biểu chất vấn chưa? Vì sao phải hứa hẹn? Hứa để nhằm mục đích gì? Với các quy định của pháp luật, điều kiện thực tế và thẩm quyền, trách nhiệm được giao thì hứa như thế nào? Hứa ở đâu? Hứa với ai, vì ai? Phải tính đếm xem khả năng có thực hiện lời hứa hay không... Tuy nhiên, để lời hứa thành hiện thực còn cần có sự giúp đỡ, tạo điều kiện từ nhiều yếu tố khác như: Sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức liên quan, sự ủng hộ của dân, cơ chế cho phép, có khi còn phải dùng tới cả các biện pháp cứng theo quy định của pháp luật, hoặc dư luận, quy phạm đạo đức để thực hiện. Ai có quyền giám sát việc thực hiện lời hứa của người đại biểu và người đại diện cơ quan, tổ chức? Đó là nhân dân và các cơ quan dân bầu là Quốc Hội và HĐND các cấp. Vì vậy, ngoài sự giám sát, phản ảnh của nhân dân, phải tăng cường hoạt động giám sát, tái giám sát của Quốc Hội, HĐND trước kỳ họp, tại kỳ họp và sau kỳ họp một cách chặt chẽ; có cơ chế công bố công khai diễn biễn của kỳ họp Quốc Hội, HĐND, công khai lời hứa và kết quả thực hiện lời hứa trên các phương tiện thông tin đại chúng, tạo các điều kiện để nhân dân theo dõi. Xây dựng được các quy phạm pháp luật quy định chế tài đối với việc hứa hẹn và thực hiện. Bên cạnh đó, các cấp có thẩm quyền cần phải thái độ rõ ràng trong khen, chê đối với lời hứa, việc thực hiện lời hứa của người đại biểu, người đại diện cho các cơ quan, tổ chức. Các biện pháp trên đây chính là “liều thuốc đặc hiệu để điều trị, loại bỏ các lời hứa xuông”./.

Nguyễn Xuân Diên - Văn phòng Đoàn ĐBQH&HĐND Hà Nội 

Lượt xem: 1693

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.