Luật Tổ chức chính quyền địa phương phải quy định rõ địa vị pháp lý của Thường trực HĐND, tỷ lệ đại biểu HĐND chuyên trách các cấp

Theo Hiến pháp, bản chất nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân; HĐND và UBND là hai trong một thực thể là: Chính quyền địa phương. Hơn 60 năm tồn tại và phát triển, HĐND các cấp luôn khẳng định vai trò, vị trí xứng đáng là cơ quan dân cử, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, bất cập đáng bàn và cần làm rõ để hoàn thiện Luật tổ chức chính quyền địa phương....

Theo Hiến pháp, bản chất nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân; HĐND và UBND là hai trong một thực thể là: Chính quyền địa phương. Hơn 60 năm tồn tại và phát triển, HĐND các cấp luôn khẳng định vai trò, vị trí xứng đáng là cơ quan dân cử, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, bất cập đáng bàn và cần làm rõ để hoàn thiện Luật tổ chức chính quyền địa phương là: HĐND được tổ chức ở những cấp nào? Địa vị pháp lý của Thường trực HĐND có phải một cơ quan không? Thường trực HĐND các cấp có cùng hệ thống cơ quan trực thuộc về thẩm quyền quản lý tổ chức, là cơ quan cấp trên và cấp dưới không ? Mỗi cấp HĐND số đại biểu chuyên trách chiếm tỷ lệ bao nhiêu cho phù hợp? Do pháp luật hiện hành chưa quy định cho phép HĐND được áp dụng các chế tài sau giám sát nên hoạt động này trở nên kém tác dụng, hiệu quả thấp...  

Thời gian qua, hoạt động của HĐND trong hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước ta cho thấy, Thường trực HĐND, các ban HĐND chính là các thực thể đại diện, tổ chức các hoạt động thường xuyên của HĐND. HĐND có xứng đáng với địa vị pháp lý, chức năng quyền hạn luật định hay không, có xứng đáng là một trong hai cơ quan hình thành nên Chính quyền địa phương hay không, có được cử tri và nhân dân nhìn nhận đánh giá tốt hay không… phụ thuộc chính vào khả năng, năng lực, chủ động của Thường trực HĐND, các Ban HĐND, hoạt động của đại biểu HĐND đặc biệt là hoạt động cảu đại biểu HĐND chuyên trách. Nói như vậy không phải phủ nhận vai trò trách nhiêm của đại biểu HĐND kiêm nhiệm khác. Về cơ bản các đại biểu HĐND đã thực hiện đúng chức trách nhiệm vụ của đại biểu như: Tham dự kỳ họp, tham dự các hoạt động giám sát của Thường trực HĐND, của các Ban HĐND; tiếp xúc cử tri; tiếp và xử lý đơn khiếu nại, tố cáo của công dân… Đáng chú ý là tại các kỳ họp HĐND, sự định hướng, điều hành khoa học của Thường trực HĐND, quan điểm thẩm tra đúng đắn của các Ban HĐND  có ý nghĩa quan trọng giúp HĐND có được quyết định, phù hợp pháp luật, khả thi; từ đó giúp cho UBND triển khai thực hiện mang lại hiệu quả thiết thực được nhân dân tin tưởng.

Hoạt động giám sát, nhất là giám sát thông qua hình thức chất vấn tại kỳ họp của HĐND thường được cử tri và nhân dân rất quan tâm, đây được coi là hoạt động thường xuyên. Hoạt động này chủ yếu phụ thuộc và dó Thường trực HĐND, các Ban HĐND thực hiện, đại biểu HĐND chuyên trách giữ vai trò chủ công. Nhưng thực tế đã và đang diễn ra không chỉ đối với HĐND thành phố Hà Nội, mà ở hầu hết các tỉnh, thành phố là: Cơ chế quản lý điều hành trong hệ thống cơ quan quyền lực ở địa phương – HĐND các cấp – còn nhiếu bất cập, do không quy định rõ ràng như: Thẩm quyền của Thường trực HĐND với thẩm quyền của UBND về công tác quản lý tổ chức, cán bộ đối với hệ thống HĐND và đại biểu HĐND; đối với bộ máy cơ quan giúp việc cho HĐND; công tác thi đua khen thưởng đối với các tổ chức thuộc hệ thống các cấp HĐND và đại biểu HĐND…

Một đồng chí Chủ tịch HĐND tỉnh H tâm sự: “Danh nghĩa là cơ quan quyền lực ở địa phương, bầu các thành viên của UBND, nhưng với chức danh là Chủ tịch HĐND cấp tỉnh, tôi có được ký khen thưởng cho các tập thể và cá nhân trong hệ thống HĐND đâu. Ngay Bằng khen tặng tôi cũng do Chủ tịch UBND cùng cấp ký tặng…”.

Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 và Quy chế hoạt động của HĐND năm 2005 đều chưa có quy định cụ thể số lượng đại biểu chuyên trách ở mỗi cấp HĐND là bao nhiêu. Hiện nay, trừ 10 tỉnh, thành đang thí điểm bỏ HĐND cấp quận, huyện, phường thì các tỉnh, thành phố còn lại số đại biểu HĐND chuyên trách ở các cấp rất khác nhau. Hầu hết các địa phương HĐND ở cấp tỉnh đại biểu chuyên trách chỉ gồm các chức danh: Chủ tịch, Phó chủ tịch, Ủy viên thường trực, một hoặc hai đại biểu là Trưởng hoặc Phó chuyên trách các Ban HĐND. HĐND ở cấp huyện đại biểu chuyên trách đa số chỉ các chức danh: Phó chủ tịch và Ủy viên thường trực; hãn hữu có nơi bố trí thêm một hoặc hai Phó ban chuyên trách. Đa số trưởng các ban HĐND cấp huyện đều kiêm nhiệm, thường bố trí Chủ nhiệm UBKT huyện ủy kiêm Trưởng Ban Pháp chế, Trưởng Ban tuyên giáo huyện ủy kiêm Trưởng ban Văn hóa xã hội… HĐND ở cấp xã, phường thì chỉ có chức danh: Phó chủ tịch. Như vậy, Đại biểu chuyên trách của HĐND phần đa các địa phương chỉ chiếm từ 5 đến 7%.

Do đại biểu HĐND kiêm nhiệm khó xắp xếp được thời gian và còn phải đảm nhiệm công việc chuyên môn khác nên vừa qua ở hầu hết các địa phương, hoạt động thực hiện chức năng giám sát chủ yếu do các đại biểu chuyên trách thực hiện. Trong kỳ họp, các phiên thảo luận toàn thể tại nghị trường, đặc biệt là phiên chất vấn hầu như các đại biểu kiêm nhiệm rất ít tham gia phát biểu, có thể do chưa tập trung nắm bắt thông tin, nghiên cứu tài liệu và ít tham gia vào các hoạt động của các Ban và Thường trực HĐND. Song còn lý do nữa rất đáng lưu tâm là ngại va chạm, hoặc có phát biểu nhưng không tỏ rõ quan điểm, “vừa đá bóng vừa thổi còi”. Tại một số kỳ họp HĐND gần đây ở thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng,… rất ít đại biểu kiêm nhiệm đưa ra câu chất vấn và phát biểu chất vấn; chỉ chủ yếu là đại biểu chuyên trách, hoặc đại biểu cơ cấu trong các tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội phát biểu, chất vấn, tái chất vấn tỏ rõ quan điểm,… Với cơ cấu đại biểu chuyên trách ít, điều kiện bảo đảm cho hoạt động không rõ. Bên cạnh đó các điều kiện khác như: trang thiết bị, kinh phí, Văn phòng Đoàn ĐBQH&HĐND lại tham mưu, giúp việc cho cả hoạt động của HĐND và Đoàn ĐBQH, đối với các Ban HĐND không rõ cơ cấu cán bộ chuyên viên giúp việc. Ở cấp huyện, Văn phòng không rõ định biên cán bộ, chuyên viên tham mưu, giúp việc chuyên cho HĐND. Chính vì vậy,  HĐND các cấp thật khó thực hiện đáp ứng yêu cầu chức năng, nhiệm vụ và sự mong đợi từ cử tri. Đến nỗi ở tỉnh T, tại phiên chất vấn của kỳ họp HĐND tỉnh giữa năm 2014, một không khí im ắng đáng ngại,chỉ có hai đại biểu chuyên trách chất vấn, còn lại không đại biểu nào đăng ký phát biểu, đồng chí Chủ tịch HĐND tỉnh phải chỉ định. Sau phiên họp, đồng chí Chủ tịch HĐND tỉnh T phải thốt lên rằng: “ Cứ cơ cấu, phân bổ đại biểu thế này, đại biểu chuyên trách quá ít, thực quyền của HĐND chỉ trên giấy…HĐND không hình thức mới là lạ…”.

Nhận thức được các khiếm khuyết này, trên cơ sở quy định của pháp luật và vận dụng vào tình hình thực tế ở từng địa phương, nhiệm kỳ 2011-2016, một số địa phương được sự quan tâm lãnh đạo của cấp ủy, HĐND đã tăng số lượng đại biểu HĐND chuyên trách và có quy định về các điều kiện bảo đảm khác cho hoạt động của HĐND, của đại biểu HĐND. Chỉ riêng HĐND Thành phố Hà Nội, do nhận thức được sự bất cập này nên Thành ủy có Đề án số 04 lãnh đạo nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐNd các cấp; bởi vậy, số đại biểu chuyên trách đã được nâng lên, ở cấp HĐND Thành phố chiếm tỷ lệ 14%. Đại biểu chuyên trách của HĐND các cấpcủa Thành phố  đã được bố trí đảm nhiệm các chức danh chủ yếu của HĐND. Ở cấp Thành phố đại biểu HĐND chuyên trách gồm Chủ tịch HĐND, Phó chủ tịch HĐND, Ủy viên thường trực HĐND kiêm Trưởng ban KTNS, Trưởng ban Pháp chế, Trưởng ban VNXH, 6 Phó các ban HĐND; 2 đại biểu kiêm là Chánh, Phó văn phòng. Đại biểu chuyên trách HĐND 29 quận, huyện, thị xã gồm có: Chủ tịch HĐND 18/29 (số còn lại là Bí thư kiêm chủ tịch HĐND), Phó chủ tịch HĐND, Ủy viên Thường trực HĐND, mỗi ban đều có 1 đại biểu chuyên trách làm trưởng hoặc Phó ban. Đại biểu HĐND ở xã, phường, thị trấn cơ bản được bố trí đảm nhiệm các chức danh: Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND. Do số lương đại biểu chuyên trách tăng lên nên các hoạt động của Thường trực, các ban HĐND trong  các hoạt động giám sát, quyết định các vấn đề tại kỳ họp hiệu quả thiết thực hơn. Đại biểu chuyên trách có thời gian, tập trung, chuyên sâu vào thực hiện các lĩnh vực hoạt động của HĐND; là điều kiện quan trọng bảo đảm cho đại biểu vô tư, khách quan trong việc đánh giá, suy xét các vấn đề từ việc thu nhận các ý kiến, kiến nghị của cử tri, công dân và qua giám sát, khảo sát thực tế; tự tin khi chất vấn hoặc phát biểu ý kiến bảo vệ các quan điểm giúp cho HĐND có quyết định đúng đắn, phù hợp quy định của pháp luật, khả thi, được nhân dân tin cậy.  

Theo Điều 111 , Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Chính quyền địa phương tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt. 

2. Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân được thành lập để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp, phân quyền do luật định.” 

Mặc dù hoạt động của HĐND trong thời gian qua và việc thí điểm ở 10 địa phương về bỏ HĐND cấp quận, huyện, phường đã và đang có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau. Song thiết nghĩ, để HĐND xứng đáng với vị trí, chức năng, nhiệm vụ là cơ quan quyền lực ở địa phương, được nhân dân tín nhiệm, giao phó, khi xây dựng Luật tổ chức chính quyền địa phương và các đạo luật liên quan, Quốc hội cần quan tâm đến các nội dung cơ bản sau:

Một là, Cần có tổng kết, đánh giá và có quan điểm rõ việc bỏ hay để HĐND quận, huyện, phường. Rõ chế định mô hình tổ chức HĐND các cấp chính quyền. Về địa vị pháp lý của Thường trực HĐND, nên coi Thường trực HĐND là một cơ quan đại diện cho HĐND có đầy đủ chức năng, nhiệm vụ điều hòa phối hợp, quản lý trong hệ thống HĐND các cấp. Quy định rõ các chức danh Thường trực HĐND. HĐND cấp tỉnh nên có Chủ tịch và ít nhất 2 Phó chủ tịch chuyên trách. Rõ Vị trí pháp lý, chức năng nhiệm vụ, số lượng Ban HĐND các cấp, số đại biểu chuyên trách các ban HĐND. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức Văn phòng tham mưu, giúp việc.    

Hai là, Quy định cụ thể số lượng đại biểu HĐND từng cấp, nên tính theo số dân nhưng cũng cần quan tâm đến tính đến đặc thù từng địa phương. Trong đó quy định tỷ lệ phù hợp, phải coi trọng phẩm chất, trình độ năng lực, trí tuệ và bản lĩnh; có tính đến cơ cấu đại biểu (vùng miền, dân tộc, tôn giáo, đoàn thể, đại diện các lĩnh vực kinh tế - xã hội quan trọng…), không nên nặng về cơ cấu mà xem nhẹ tiêu chuẩn năng lực.Tăng tỷ lệ đại biểu chuyên trách. Đối với HĐND cấp tỉnh, thành phố số đại biểu chuyên trách nên chiếm tỷ lệ từ 15 đến 20%. Đối với cấp ủy đảng các cấp nên cơ cấu tỷ lệ đại biểu chuyên trách tham gia vào cấp ủy, đây cũng là giải pháp nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng.

Ba là, Bên cạnh việc hoàn thiện, ban hành Luật Tổ chức Chính quyền địa phương, Luật Bầu cử HĐND các cấp, Luật Thi đua khen thưởng, Quốc hội cũng cần xem xét ban hành Luật Giám sát của HĐND và các văn bản QPPL có liên quan đến tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp.

Nguyễn Xuân Diên

Lượt xem: 619

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.