Một số kinh nghiệm trong công tác tiếp công dân của đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH TP Hà Nội

Qua kết quả hoạt động trên cho thấy để công tác tiếp công dân, theo dõi, đôn đốc, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân có hiệu quả, đáp ứng được mong mỏi của công dân thì người đại biểu phải có quyết tâm cao, không ngại va chạm, biết bức xúc trước những bức xúc của Nhân dân để trên cơ sở đó tìm hiểu tường tận vấn đề, phân tích đúng, sai. Nếu thấy trong quá trình giải quyết có dấu hiệu sai phạm thì biết lựa chọn hình thức giám sát thích hợp nhằm đem lại hiệu quả cho hoạt động giám sát, bảo vệ quyền lợi chính đáng của công dân...

Tiếp công dân là một trong những nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội; đại biểu Quốc hội tiếp công dân qua các hình thức tiếp dân tại trụ sở tiếp công dân của Thành phố; tiếp nhận xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân qua các cuộc tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp của Quốc hội trên địa bàn ứng cử.

Đại biểu Quốc hội tiếp công dân nhằm hiểu được tâm tư, nguyện vọng của công dân, tiếp nhận các thông tin, kiến nghị, phản ánh góp ý những vấn đề liên quan đến chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước; thu thập ý kiến, phản ánh của công dân, hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và nhận đơn, thư của công dân để chuyển đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật; tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, vận động nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành chính sách pháp luật của Nhà nước.

Qua hoạt động của đại biểu Quốc hội, nhận thấy việc tiếp công dân xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân là một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong hoạt động của từng đại biểu Quốc hội, nó góp phần cùng các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể trong việc tham gia quản lý nhà nước nhằm đáp ứng với yêu cầu đổi mới của xã hội và hội nhập quốc tế. Từ thực tiễn hoạt động tiếp công dân của ĐBQH, cử tri có niềm tin vào các vị ĐBQH - người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Thông qua hoạt động tiếp công dân, các ĐBQH không chỉ lắng nghe công dân trình bày ý kiến, kiến nghị của mình mà ĐBQH đã dành thời gian để tuyên truyền, giải thích cho công dân về đường lối, chủ trương, chính sách và thực hiện quy hoạch của Nhà nước trong các mục tiêu như an ninh quốc phòng, công trình phúc lợi xã hội, các dự án đầu tư phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Từ 01/01/2015 đến 18/12/2015, ĐBQH thuộc Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã thực hiện  54 buổi tiếp công dân, tiếp 1.236 lượt công dân, nhận 1.824 đơn và xem xét chuyển đến các cơ quan thẩn quyền giải quyết 445 đơn.

T thực tiễn yêu cầu của công tác tiếp dân và thực hiện Nghị quyết 759 NQ/UBTVQH13 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã chú trọng nâng cao chất lượng công tác tiếp công dân, cá nhân các đại biểu lập sổ sách để theo dõi, quản lý và xử lý đơn thư khiếu nại tố cáo. 100% đơn khiếu nại, tố cáo được nghiên cứu, xử lý chuyển đến các cơ quan chức năng kịp thời, đúng quy định về thẩm quyền do pháp luật quy định. Trên cơ sở kiến nghị, khiếu nại của công dân, ĐBQH đã tổ chức làm việc với một số sở ngành để làm rõ những vướng mắc trong quá trình giải quyết như: Vụ việc của ông Nguyễn Văn Chiên, trú tại: Phố Vị Thủy, xã Thanh Mỹ, thị xã Sơn Tây liên quan đến chế độ bảo hiểm xã hội đối với cán bộ xã (phường); vụ ông Phùng Đình Đang, thôn Cộng Hòa, xã Thái Hòa, huyện Ba Vì về chế độ trợ cấp đối với nhà giáo đã nghỉ hưu chưa được hưởng chế độ trợ cấp thâm niên trong lương hưu theo Quyết định số 52/2013/QĐ-TTg ngày 30/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ…. Sau buổi làm việc các vụ việc đã dược giải quyết.

Qua kết quả hoạt động trên cho thấy để công tác tiếp công dân, theo dõi, đôn đốc, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân có hiệu quả, đáp ứng được mong mỏi của công dân thì người đại biểu phải có quyết tâm cao, không ngại va chạm, biết bức xúc trước những bức xúc của Nhân dân để trên cơ sở đó tìm hiểu tường tận vấn đề, phân tích đúng, sai. Nếu thấy trong quá trình giải quyết có dấu hiệu sai phạm thì biết lựa chọn hình thức giám sát thích hợp nhằm đem lại hiệu quả cho hoạt động giám sát, bảo vệ quyền lợi chính đáng của công dân.

Người đại biểu phải nghiên cứu các văn bản pháp luật trong từng thời kỳ, đặc điểm phong tục, tập quán của từng khu vực để đảm bảo khách quan trong việc giám sát cũng như việc xem xét, đánh giá quá trình giải quyết của các cơ quan chức năng đúng hay chưa đúng quy định của pháp luật. Trên cơ sở đó phát hiện ra các dấu hiệu sai phạm, tổ chức giám sát, làm rõ những cơ sở pháp lý đề nghị các cơ quan chức năng khắc phục.

Bản lĩnh là yếu tố không thể thiếu được của người đại biểu Nhân dân. Không có bản lĩnh, người đại biểu không dám tổ chức giám sát các cơ quan hành chính nhà nước, các cơ quan tư pháp khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Có bản lĩnh nhưng cũng cần phải có phương pháp mềm dẻo, vừa giám sát chỉ ra cái sai, vừa phải biết thuyết phục để các cơ quan, cá nhân làm sai thấy được cái sai để khắc phục.

Phải biết “đeo bám” đến kết quả cuối cùng. Giám sát phát hiện vấn đề mới là kết quả bước đầu. Theo dõi, đôn đốc, giám sát việc thực hiện các yêu cầu, kiến nghị sau giám sát mới có thể đánh giá được kết quả giám sát. Do vậy, cần phải theo dõi thời gian các cơ quan chịu sự giám sát thực hiện kiến nghị, nếu chưa thấy báo cáo kết quả thì phải có hình thức đôn đốc cho đến khi thực hiện xong./.

HỒ ĐIỆP

Lượt xem: 545

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.