Một số vấn đề trao đổi trong công tác tiếp xúc cử tri

TXCT không chỉ là nhiệm vụ, trách nhiệm mà còn là phương pháp hoạt động của đại biểu HĐND, bởi TXCT sẽ không an nhàn nếu người đại biểu không trang bị cho mình một hành trang Hiến pháp, Luật và nắm chắc tình hình kinh tế - xã hội của địa phương, để từ đó, thông qua TXCT thông tin cho dân biết, giải thích cho dân hiểu, bàn với dân và nghe dân bàn, trả lời hoặc chuyển các cơ quan có trách nhiệm trả lời những yêu cầu, kiến nghị của cử tri; đôn đốc giải quyết những kiến nghị của cử tri...

1/ Cần nhận thức đúng về công tác tiếp xúc cử tri. 

Khoản 1 điều 38 Quy chế họat động HĐND năm 2005 quy định Đại biểu HĐND phải liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu ra mình, chịu sự giám sát của cử tri, có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri với HĐND và cơ quan nhà nước hữu quan ở địa phương”. Chính vì thế, tiếp xúc cử tri (TXCT) là quyền, đồng thời cũng là nhiệm vụ, trách nhiệm của người đại biểu HĐND. Qua TXCT, đại biểu HĐND có thêm điều kiện để làm tốt chức trách của mình, là cầu nối quan trọng giữa nhân dân với HĐND, giữa nhân dân với cơ quan quyền lực các cấp. 

Tuy nhiên, trong thực tiễn hoạt động, không phải đại biểu nào cũng quan tâm đầy đủ về vị trí, vai trò, hiệu quả của công tác TXCT, coi công tác TXCT là hoạt động hết sức bình thường, mới chỉ tập trung lắng nghe và tập hợp ý kiến cử tri để chuyển tải đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; đồng thời thông tin đến cử tri các nội dung về tình kinh tế xã hội, về diễn biến, kết quả kỳ họp...  và coi đó như đã hoàn thành trách nhiệm là "người đại biểu đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân".  

Thực ra, TXCT không chỉ là nhiệm vụ, trách nhiệm mà còn là phương pháp hoạt động của đại biểu HĐND, bởi TXCT sẽ không an nhàn nếu người đại biểu không trang bị cho mình một hành trang pháp lý, những quy định của pháp luật và nắm chắc tình hình kinh tế xã hội của địa phương, để từ đó, thông qua TXCT thông tin cho dân biết, giải thích cho dân hiểu, bàn với dân và nghe dân bàn, trả lời hoặc chuyển các cơ quan có trách nhiệm trả lời những yêu cầu, kiến nghị của cử tri; đôn đốc giải quyết những kiến nghị của cử tri.

2/ Chuẩn bị tốt các nội dung báo cáo với cử tri. 

Căn cứ vào yêu cầu, tính chất của từng cuộc TXCT, thường trực HĐND hướng dẫn về cách thức, đối tượng, thời gian, hình thức tổ chức TXCT. Trong thời gian chuẩn bị TXCT, các đại biểu phải nghiên cứu các nội dung các vấn đề sẽ bàn định trong kỳ họp, các vấn đề trọng tâm cần lấy ý kiến, những kiến nghị của cử tri mà địa phương phải giải quyết

Đối với các cuộc TXCT chuẩn bị cho kỳ họp, Các báo cáo trình bày tại Hội nghị tiếp xúc cử tri cần được tóm tắt những nội dung chính, những vấn đề cần tập trung tham gia ý kiến như các nhận định, đánh giá, các chỉ tiêu, giải pháp cụ thể gửi trước đến các đại biểu để nghiên cứu, chuẩn bị. Đối với TXCT sau kỳ họp, báo cáo kết quả kỳ họp phải được chuẩn bị tốt, giúp đại biểu làm nền tảng cùng với tiếp thu của đại biểu tại kỳ họp để cuộc tiếp xúc có hiệu quả. 

Ngoài những báo cáo trên, báo cáo trả lời kiến nghị của cử tri nên ngắn gọn, rõ ràng, trả lời thẳng vào vấn đề và phải có thời hạn giải quyết, tránh tình trạng trả lời chung chung, không rõ thời hạn giải quyết để cử tri kiến nghị nhiều lần.

3/ Tổ chức TXCT rộng rãi, sát đối tượng và đa dạng hóa các hình thức TXCT.

Mở rộng thành phần cử tri tham gia tiếp xúc đảm bảo tính dân chủ, không nên hạn chế thành phần. Động viên cử tri là những người lao động trực tiếp đến các cuộc tiếp xúc, hướng dẫn họ trao đổi, phản ánh ý kiến với đại biểu; tổ chức tiếp xúc luân phiên ở các địa bàn khác nhau trong đơn vị bầu cử hoặc tiếp xúc với cử tri ở nhiều đơn vị bầu cử khác trên địa bàn Thành phố.  

Căn cứ vào tính chất, nội dung cần lấy ý kiến, đối tượng cử tri được mời tham gia khác nhau. Có cuộc TXCT là cán bộ cơ sở, có cuộc TXCT phần lớn là người trực tiếp lao động, ở thôn bản hoặc cán bộ công nhân viên tại các cơ quan hoặc doanh nghiệp. 

Tạo điều kiện để cử tri có thời gian nghiên cứu, suy nghĩ bằng cách đăng trên báo địa phương dự kiến nội dung kỳ họp, một số báo cáo chính được nhân bản gửi đến cử tri; khi báo cáo đại biểu phải nhấn mạnh những vấn đề trọng tâm, các nhận định đánh giá, các kết quả bằng số liệu, các chỉ tiêu, biện pháp chủ yếu, để cử tri tập trung tham gia ý kiến.

Cần đổi mới cách báo cáo, phản ánh trong các cuộc tiếp xúc. Thông thường các cuộc tiếp xúc cử tri được tổ chức theo trình tự: Đại diện đại biểu HĐND trình bày các báo cáo, cử tri phát biểu ý kiến, đại diện đoàn tiếp thu ý kiến của cử tri, như vậy cuộc tiếp xúc cử tri sẽ rất khô cứng. Do đó, cần phải có sự đổi mới để các cuộc tiếp cử tri thực sự là một diễn đàn dân chủ, đại biểu và cử tri thoải mái phát biểu, trao đổi về các vấn đề mà cử tri quan tâm. Tăng cường việc trả lời kiến nghị và giải đáp pháp luật tại cuộc tiếp xúc nhằm giải quyết kịp thời một số thắc mắc của cử tri, tạo ra không khí cởi mở, đối thoại giữa đại biểu với công dân, giữa chính quyền với nhân dân; đồng thời thể hiện trách nhiệm, phát huy năng lực của đại biểu, của chính quyền địa phương trong việc giải quyết những công việc của dân. Nên bố trí những đại biểu am hiểu về pháp luật và có năng lực truyền đạt và nắm được tình hình kinh tế xã hội trong Thành phố để trình bày báo cáo và trao đổi cùng cử tri.

Đại diện UBND dự tiếp xúc cử tri trực tiếp trình bày báo cáo trả lời kiến nghị của tri và giải trình những vấn đề mà cử tri còn chưa rõ. Có như vậy, mới nâng cao được trách nhiệm của cơ quan chấp hành trong việc giải quyết kiến nghị của cử tri. 

4/ Tổng hợp đầy đủ và trung thực ý kiến của cử tri.  

Tổng hợp phải khái quát và phản ánh đầy đủ mọi ý kiến, kể cả những mặt tốt và những tồn tại, yếu kém để báo cáo HĐND tại kỳ họp.  

Phân loại ý kiến theo thẩm quyền, chuyển đến cơ quan có trách nhiệm, yêu cầu giải quyết và báo cáo với HĐND.

Một số ý kiến bức xúc của cử tri cần được đưa vào gợi ý cho đại biểu thảo luận và nêu thành ý kiến chất vấn, để cơ quan thuộc thẩm quyền xem xét, trả lời.  

5/ Đôn đốc việc giải quyết những kiến nghị của cử tri. 

Đôn đốc giải quyết có kết quả và trả lời kiến nghị của cử tri có vị trí đặc biệt quan trọng đối với việc đổi mới và nâng cao chất lượng TXCT của đại biểu HĐND. Đây là vấn đề cốt lõi mà cử tri quan tâm, mong đợi. Song, để thực hiện được điều này đòi hỏi đại biểu HĐND phải kiên quyết, đôn đốc thường xuyên và đeo bám đến khi có kết quả cuối cùng, cụ thể là: 

Sau khi phân loại ý kiến, chuyển đến các cơ quan yêu cầu trả lời, cần thường xuyên đôn đốc nhắc nhở việc xem xét giải quyết và trả lời bằng văn bản, chuyển đến HĐND trước khi khai mạc kỳ họp. Thường trực HĐND xem xét chất lượng, yêu cầu bổ sung và chuẩn bị trình bày tại kỳ họp.

Chuẩn bị TXCT, Thường trực HĐND yêu cầu UBND chỉ đạo các ngành liên quan báo cáo kết quả giải quyết kiến nghị của cử tri lần tiếp xúc trước, tổng hợp kết quả để báo cáo cử tri những vấn đề có tính chất chung của địa phương và báo cáo bằng văn bản gửi tới các đơn vị tiếp xúc cử tri trước. Việc báo cáo kết quả như thế phù hợp với yêu cầu luân chuyển địa điểm TXCT lần sau không trùng với các điểm tiếp xúc lần trước hoặc Đoàn đại biểu Quốc hội đã tiếp xúc.

6/ Nâng cao kỹ năng hoạt động TXCT của đại biểu HĐND.  

Hiệu quả của TXCT phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó kỹ năng tiếp xúc và tinh thần trách nhiệm của đại biểu là rất quan trọng. Vì vậy, đại biểu rất cần có các kỹ năng cơ bản trong TXCT như: có kỹ năng trình bày. Biết cách trình bày những vấn đề mà HĐND xem xét quyết định, biết lắng nghe những ý kiến của cử tri; nghe và ghi chép đầy đủ các vấn đề cử tri nêu ra, khi tiếp nhận thông tin cần có thái độ tích cực, công bằng; biết cách trả lời, giải thích để cử tri nắm vững và hiểu rõ các vấn đề; biết tiếp thu, tổng hợp các ý kiến...

7/ Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa Thường trực HĐND và các ban, ngành. 

Một trong các giải pháp để hướng tới mục tiêu tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động TXCT của đại biểu HĐND. Đó là Cấp uỷ, chính quyền, MTTQ, các đoàn thể cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mình về ý nghĩa, tầm quan trọng trong việc tiếp xúc cử tri theo luật định; lãnh đạo UBND thành phố, các quận, huyện, sở, ngành cần nâng cao tinh thần trách nhiệm trong xem xét, trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri, phải tôn trọng ý kiến của cử tri; tăng cường tuyên truyền về công tác TXCT thông qua sinh hoạt của MTTQ và các đoàn thể; nên lồng ghép việc tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND Thành phố, huyện, xã ứng cử tại mỗi đơn vị bầu để tránh sự trùng lắp, mất thời gian của nhân dân khi phải tiếp xúc nhiều lần với đại biểu HĐND nhiều cấp. Như vậy, tại các cuộc tiếp xúc cử tri nhất thiết phải có đại diện của UBND các cấp.

8/ Gắn chặt chẽ với cơ quan báo chí để tuyên truyền, phản ánh kịp thời hoạt động TXCT và ý kiến cử tri.

Đổi mới cách thông tin sau mỗi cuộc tiếp xúc cử tri trên các phương tiện thông tin đại chúng, tăng cường thời lượng phát sóng về buổi tiếp xúc cử tri để những cử tri không tham gia tiếp xúc cử tri thấy được các ý kiến trao đổi, phản ánh những vấn đề trong cuộc tiếp xúc cử tri càng công khai rộng rãi càng tốt./,

NGUYỄN THỊ HỒ ĐIỆP

Lượt xem: 849

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.