Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phối hợp công tác với Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội, kinh nghiệm từ Thường trực HĐND quận Hà Đông

Với Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội, Thường trực HĐND quận luôn giữ mối quan hệ thường xuyên và tạo mọi điều kiện thuận lợi khi Đoàn về địa phương công tác. Mối quan hệ phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội với Thường trực HĐND quận Hà Đông thời gian qua là yếu tố góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử.

Trong quá trình  tổ chức và triển khai các nhiệm vụ, Thường trực HĐND quận Hà Đông luôn bám sát các quy định của pháp luật, sự chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan cấp trên, của Ban Thường vụ Quận ủy Hà Đông và phát huy mối quan hệ phối hợp với UBND, Ủy ban MTTQ quận, các cơ quan, ban, ngành liên quan. Đặc biệt là với Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội, Thường trực HĐND quận luôn giữ mối quan hệ thường xuyên và tạo mọi điều kiện thuận lợi khi Đoàn về địa phương công tác. Mối quan hệ phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội với Thường trực HĐND quận Hà Đông thời gian qua là yếu tố góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử.

Một buổi khảo sát của Đoàn ĐBQH TP Hà Nội tại quận Hà Đông

Hàng năm, trước và sau mỗi kỳ họp Quốc hội, sau khi có lịch tiếp xúc cử tri của  Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực HĐND quận đã phối hợp với UBND, MTTQ quận, phường chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, địa điểm, thành phần cử tri, công tác tuyên truyền, công tác an ninh trật tự…đảm bảo hội nghị tiếp xúc cử tri an toàn, chương trình, nội dung hợp lý, khoa học. Thông qua các hội nghị tiếp xúc cử tri, đại biểu Quốc hội đã kịp thời nắm bắt tâm tư nguyện vọng của cử tri địa phương, nhiều vấn đề được các đại biểu có trách nhiệm trực tiếp tiếp thu, giải trình, những vấn đề không thuộc thẩm quyền được đại biểu Quốc hội ghi nhận, Thường trực HĐND quận tổng hợp báo cáo Đoàn đại biểu trình Quốc hội xem xét và theo dõi đôn đốc giải quyết.

Thời gian giữa 2 kỳ họp Quốc hội, các đại biểu Quốc hội đã đôn đốc các cơ quan có trách nhiệm giải quyết các kiến nghị của cử tri và trước các kỳ tiếp xúc, lãnh đạo Đoàn đã chuyển văn bản trả lời về Thường trực HĐND quận để báo cáo với cử tri tại hội nghị tiếp xúc cử tri. Nhiều vấn đề liên quan đến chế độ chính sách, những vấn đề dân sinh bức xúc mà cử tri Hà Đông phản ánh, đã được UBND thành phố và các cơ quan có thẩm quyền trả lời bằng văn bản và nhận được sự đồng tình của cử tri như: Kiến nghị xem xét quy định về hạn mức cấp giấy CNQSD đất theo Quyết định số 22 ngày 20/6/2014 của thành phố Hà Nội là chưa phù hợp; đề nghị chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ giao đất dịch vụ cho nhân dân, tiến độ triển khai thực hiện dự án xây dựng khu đô thị sinh thái trên địa bàn các phường: Đồng Mai, Yên Nghĩa, Phú Lãm quận Hà Đông; Đề nghị đầu tư kinh phí xây dựng nhà văn hóa cho các Tổ dân phố, xây dựng cầu qua sông Đáy thuộc địa bàn phường Đồng Mai, lắp đặt hệ thống đèn tín hiệu giao thông tại một số ngã tư đường; Kiểm tra xử lý việc xây dựng nhà hàng kinh doanh ăn uống sai quy hoạch tại khu đô thị Văn Quán…

Đây là việc làm được cử tri đánh giá cao về tinh thần trách nhiệm của đại biểu. Chính vì vậy, nhiều đại biểu Quốc hội đã ghi được dấu ấn trong lòng cử tri ở tinh thần trách nhiệm, khả năng đóng góp vào quyết định đúng đắn về các vấn đề quan trọng của đất nước và trên hết là ý thức tình cảm với cử tri, với công việc mà cử tri giao phó.

Khi tổ chức giám sát việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tại địa phương, bao giờ Đoàn đại biểu Quốc hội cũng thông báo trước về nội dung, thời gian, thành phần đoàn giám sát và mời Thường trực HĐND quận cùng tham gia. Trong nhiệm kỳ này, căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội đó lựa chọn những vấn đề cử tri Hà Đông quan tâm để giám sát như: Giám sát việc thực hiện pháp luật về công tác tiếp dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo trên địa bàn quận; Khảo sát việc thực hiện 1 năm Luật thủ đô; Giám sát việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với Cách mạng… Đây là hoạt động phối hợp mang lại hiệu quả thiết thực, vì thông qua giám sát, có những tồn tại thuộc trách nhiệm của chính quyền địa phương, Đoàn đại biểu Quốc hội đã trực tiếp yêu cầu Thường trực HĐND quận tiếp thu để chỉ đạo UBND giải quyết; Những khó khăn vướng mắc lãnh đạo Quận đó trực tiếp báo cáo để Đoàn đại biểu Quốc hội có ý kiến với cơ quan, đơn vị có trách nhiệm xem xột, giải quyết.

Khi tổ chức hội nghị tổng kết việc thi hành Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2013, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội đã mời Thường trực HĐND quận Hà Đông tham dự, để có sự trao đổi ý kiến từ cơ sở, những đề xuất, kiến nghị từ thực tiễn, giúp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát.

Tại các hội nghị tham gia đóng góp ý kiến vào các dự án Luật do Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội tổ chức, Thường trực HĐND quận đã trực tiếp tham dự và tham gia đóng góp nhiều ý kiến xuất phát từ thực tiễn như: tham gia đóng góp ý kiến vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, dự thảo Luật tổ chức Quốc hội (sửa đổi), Luật đất đai (sửa đổi), dự thảo Nghị quyết về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn (sửa đổi)… Nhiều hội nghị giao ban, hội nghị tổng kết hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực HĐND quận cũng được mời tham dự; các kỳ họp HĐND, Thường trực HĐND quận đã mời lãnh đạo Đoàn đại biểu Quốc hội về dự, để trực tiếp nắm bắt tình hình địa phương và chỉ đạo một số vấn đề cụ thể. Thông qua các hội nghị, kỳ họp, Đoàn đại biểu Quốc hội và Thường trực HĐND quận không những nắm bắt được thông tin hai chiều, mà còn có thể trao đổi, rút ra những bài học kinh nghiệm về công tác phối hợp hoạt động giữa Quốc hội với HĐND các cấp, nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng hoạt động của cơ quan dân cử.

Qua thực tế hoạt động có thể nhận thấy: Công tác phối hợp giữa Thường trực HĐND quận Hà Đông với Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội trong nhiều năm qua, đã thực sự mang lại hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động HĐND quận. Sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa 2 cơ quan giúp các đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND làm tròn chức năng, nhiệm vụ của người đại biểu dân cử. Đặc biệt những kiến nghị của cử tri- mối quan tâm chung của các đại biểu đã được cơ quan quyền lực Nhà nước nắm bắt kịp thời, làm cơ sở để Quốc hội chỉ đạo các cơ quan quản lý Nhà nước có những giải pháp tháo gỡ khó khăn, giải quyết những kiến nghị chính đáng, đáp ứng nguyện vọng của cử tri.

Từ kinh nghiệm và thực tế phối hợp công tác với Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội, để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, cần thiết đề nghị Quốc hội quan tâm chất lượng đại biểu Quốc hội khoá XIV; Tăng cường đại biểu hoạt động chuyên trách để có nhiều thời gian dành cho hoạt động đại biểu. Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội tiếp tục nghiên cứu, tăng cường hoạt động giám sát, tiếp xúc cử tri tại các địa phương; thường xuyên theo dõi, đôn đốc việc giải quyết các kiến nghị của cử tri địa phương và báo cáo kết quả với cử tri. Khi triển khai các hoạt động của Quốc hội tại các địa phương, Đoàn đại biểu Quốc hội nhất thiết phải giữ mối quan hệ phối hợp chặt chẽ, thường xuyên với Thường trực HĐND, UBND, Uỷ ban MTTQ các đơn vị; Kịp thời nắm bắt tình hình địa phương, giúp địa phương tháo gỡ khó khăn, góp phần ổn định an ninh trật tự, tập trung phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội.

HĐND các quận, huyện, thị xã trong quá trình hoạt động nên thường xuyên thông tin, báo cáo kết quả với Đoàn đại biểu Quốc hội ứng cử tại địa phương; Duy trì chế độ thông tin hai chiều, giúp các đại biểu dân cử làm tốt hơn vai trò chức năng của người đại biểu, góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương./.

Phương Lan - UVTT HĐND quận Hà Đông

Lượt xem: 459

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.