Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động chất vấn – Kinh nghiệm hay từ HĐND huyện Từ Liêm

Nhiều ý kiến chất vấn tại kỳ họp HĐND huyện Từ Liêm đã được giải đáp, trả lời thẳng thắn trên tinh thần xây dựng và được tổ chức triển khai trong thực tiễn, tạo niềm tin cho cử tri, góp phần nâng cao uy tín của HĐND và các vị đại biểu dân cử.

 

Chất vấn và trả lời chất vấn là nội dung thu hút sự quan tâm của đông đảo cử tri tại các kỳ họp của HĐND. Thông qua hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn, nhân dân có thể đánh giá được những người mà cử tri đã tin tưởng bầu ra có làm tròn trách nhiệm là đại biểu của dân hay không? Đánh giá được trách nhiệm của thủ trưởng các cấp, các ngành trong việc hoàn thành nhiệm vụ mà nhà nước giao phó?

Thông qua chất vấn, các vị đại biểu dân cử đã thực hiện quyền giám sát ngay tại kỳ họp. Đây là hình thức giám sát rất hiệu quả vì những vấn đề chất vấn sẽ được trả lời công khai tại kỳ họp, nếu cơ quan được chất vấn trả lời không thỏa đáng sẽ bị đại biểu HĐND tiếp tục truy vấn.

Thời gian qua, chất lượng các phiên chất vấn, trả lời chất vấn của HĐND huyện Từ Liêm đã từng bước được nâng lên. Nhiều ý kiến chất vấn tại kỳ họp được giải đáp, trả lời thẳng thắn trên tinh thần xây dựng và được tổ chức triển khai trong thực tiễn, tạo niềm tin cho cử tri, góp phần nâng cao uy tín của HĐND và các vị đại biểu dân cử. Về cơ bản, các cơ quan, cá nhân có trách nhiệm đều có sự chuẩn bị kỹ để trả lời chất vấn, quan tâm đến việc tập trung tháo gỡ khó khăn, giải đáp những băn khoăn, kiến nghị của cử tri. Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn đã tạo nên không khí sôi động, cởi mở, thẳng thắn và dân chủ tại các kỳ họp HĐND.

Tuy nhiên, hoạt động chất vấn, trả lời chất vấn vẫn chưa thực sự chất lượng và mang lại hiệu quả như mong đợi. Bên cạnh những đại biểu nghiên cứu sâu nội dung, nắm chắc thông tin, số liệu nên chất vấn rõ ràng, đúng đối tượng, đúng trọng tâm; thì cũng có không ít chất vấn chưa đi sâu vào trọng tâm vấn đề cần hỏi hoặc thiếu tính khái quát, phổ biến mà mang tính sự vụ cụ thể. Có đại biểu xem chất vấn như một nghĩa vụ, chỉ hỏi ở mức độ chung chung, chất vấn nửa vời; khi cơ quan được chất vấn trả lời chưa thỏa đáng với câu hỏi của mình cũng không truy vấn để làm sáng tỏ. Do vậy, nhiều khi có chất vấn nhưng vẫn chưa làm rõ vấn đề cần hỏi, nhiều vấn đề bức xúc vẫn chưa được các đại biểu thẳng thắn chất vấn cơ quan công quyền. Cũng có trường hợp đại biểu rất tích cực chất vấn, nhưng câu hỏi thiếu trọng tâm hoặc không đúng đối tượng, chưa có kỹ năng đặt câu hỏi chất vấn. Việc theo dõi, giám sát thực hiện “lời hứa” của người được chất vất chưa thật chặt chẽ nên phần nào đã làm giảm hiệu lực, hiệu quả của hoạt động chất vấn tại các kỳ họp. Một số đại biểu còn có tâm lý nể nang, ngại va chạm, tư tưởng “cấp dưới, cấp trên”, nên chưa phát huy tốt vai trò của mình trong hoạt động chất vấn.

Bên cạnh đó, chất lượng trả lời chất vấn của một số cơ quan, đơn vị chưa cao, còn viện dẫn dài dòng, vòng vo, né tránh trách nhiệm; một số trường hợp trả lời chung chung, chưa đi sâu vào trọng tâm vấn đề đại biểu chất vấn, không làm rõ nguyên nhân, thực trạng tình hình; đổ lỗi do điều kiện khách quan hay cơ chế; chưa nêu được giải pháp khắc phục, sửa chữa tồn tại, hạn chế; hoặc nếu có cũng không đưa ra hạn định cụ thể về thời gian. Một số trường hợp sau khi đã được chủ tọa nhất trí cho trả lời sau bằng văn bản, đã cố tình lờ đi, không gửi văn bản trả lời theo qui định. Vẫn còn tình trạng cấp trưởng ủy quyền cho cấp phó trả lời, nên khi đại biểu truy vấn các vấn đề chưa được chuẩn bị trước, cấp phó không đủ thẩm quyền, phải xin tiếp thu và trả lời sau kỳ họp.

 

Ngoài việc chất vấn tại kỳ họp, trong thời gian giữa hai kỳ họp, đại biểu HĐND cũng có thể tiến hành hoạt động chất vấn bằng cách gửi chất vấn cho Thường trực HĐND để nghiên cứu, có văn bản đề nghị UBND và các ngành chức năng trả lời bằng văn bản hoặc có biện pháp giải quyết theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế hình thức chất vấn này hầu như chưa được phát huy.

 

Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, HĐND huyện Từ Liêm đã có nhiều cố gắng trong việc đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động HĐND, trong đó mục tiêu nâng cao chất lượng kỳ họp đã được HĐND huyện chú trọng thông qua việc nâng cao chất lượng hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn. Kỳ họp thứ 3, HĐND huyện đã lựa chọn 4 vấn đề cử tri quan tâm để chất vấn: công tác quản lý đất đai, quản lý trật tự xây dựng; công tác cấp GCN QSD đất ở cho các khu tập thể; công tác quản lý hoạt động kinh doanh karaoke, internet; công tác quản lý khớp nối hạ tầng cơ sở; đại biểu HĐND huyện đã nêu 16 nội dung chất vấn UBND huyện và các ngành. Kỳ họp thứ 4, HĐND huyện đã lựa chọn 5 vấn đề cử tri quan tâm: vấn đề an toàn sử dụng điện và chất lượng phục vụ của cơ quan điện lực; tiến độ các dự án cấp nước sạch sông Đà; các dự án phục vụ xây dựng thiết chế văn hóa cho cơ sở; việc khớp nối hạ tầng giao thông; vấn đề an ninh trật tự trên địa bàn. Hoạt động chất vấn tại kỳ họp HĐND huyện đã thu hút được sự quan tâm theo dõi của nhiều ngành, nhiều đơn vị và cử tri.

 

Kinh nghiệm từ hoạt động thưc tế của HĐND huyện Từ Liêm cho thấy, để nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động chất vấn tại kỳ họp cần vai trò quan trọng của chủ tọa trong Điều hành phiên chất vấn, trả lời chất vấn vừa đảm bảo chặt chẽ theo chương trình, vừa linh hoạt. Chủ tọa cần gợi ý những nội dung trọng tâm, những vấn đề còn ý kiến khác nhau để đại biểu tham gia thảo luận; xới những vấn đề được dư luận, ý kiến cử tri quan tâm, nhiều lần kiến nghị; kịp thời điều chỉnh, cắt những ý kiến dài dòng, lạc đề; phát huy dân chủ, tạo không khí sôi nổi, thẳng thắn để các đại biểu trình bày ý kiến chất vấn.

Việc lựa chọn vấn đề chất vấn phải đảm bảo tính thời sự, bức xúc, có tính khái quát; những vấn đề mang tính cục bộ, sự vụ có thể đề nghị các cơ quan liên quan trả lời bằng văn bản. Nên bố trí chất vấn theo nhóm vấn đề trên các lĩnh vực cụ thể. Trong mỗi vấn đề chất vấn, chủ tọa có thể đề nghị người chất vấn đưa ra các thông tin, số liệu cụ thể để chứng minh cho lập luận của mình. Đồng thời yêu cầu người trả lời cần có thái độ cầu thị, làm rõ trách nhiệm cá nhân, tập thể; các giải pháp khắc phục đưa ra phải rõ ràng, có lộ trình thực hiện cụ thể để đại biểu, cử tri giám sát.

Trong những trường hợp cần thiết chủ tọa có thể yêu cầu làm rõ đến cùng hoặc đề nghị dừng lại nếu thấy vấn đề chưa rõ và khó đạt được sự thống nhất để các bên tiếp tục nghiên cứu và báo cáo lại Thường trực HĐND sau kỳ họp. Kết luận của chủ tọa kỳ họp tại phiên chất vấn nên ngắn gọn, nhận xét tóm tắt những nội dung đạt được và chưa đạt được trong phiên chất vấn, trả lời chất vấn, những vấn đề cần rút kinh nghiệm cho kỳ họp sau.

Nâng cao kỹ năng chất vấn của đại biểu HĐND, mà trước hết phải nâng cao tinh thần trách nhiệm của các vị đại biểu dân cử, đòi hỏi các vị đại biểu HĐND phải am hiểu, có bản lĩnh, dám hỏi, dám “truy vấn” đến cùng; "đeo bám" nội dung chất vấn qua nhiều kỳ họp nếu chưa được giải quyết dứt điểm. Chính vì vậy, trước khi chất vấn một vấn đề gì, đòi hỏi người đại biểu phải tìm hiểu kỹ, thu thập thông tin và có bằng chứng xác thực, tránh hỏi để “cho biết” hoặc hỏi “cho có”; đặt vấn đề ra nhưng không truy vấn đến cùng; câu hỏi giản đơn không có điểm nhấn, không gây được sự chú ý, không phải là vấn đề nóng được nhiều cử tri quan tâm. Việc nắm bắt nguyện vọng của cử tri, khả năng tổng hợp, khái quát thành vấn đề để chất vấn cũng như luận cứ pháp lý và thực tế là những tiền đề rất quan trọng, bảo đảm không chỉ cho việc chất vấn có căn cứ và thuyết phục, mà còn không biến đại biểu HĐND thành địa chỉ trung gian chuyển kiến nghị, yêu cầu, nguyện vọng của cử tri.

Đối với các vị lãnh đạo của cơ quan được đại biểu dân cử chất vấn, khi trả lời cần phải cụ thể, rõ ràng, đúng trọng tâm những vấn đề đã được hỏi. Nếu đại biểu chưa đồng tình với việc trả lời chất vấn của các cơ quan nhà nước thì có quyền đề nghị trả lời cụ thể hơn, có thể kiến nghị HĐND xem xét trách nhiệm của người được chất vấn. Sau trả lời chất vấn, những "lời hứa" phải thật sự được chú trọng và tăng cường giám sát chặt chẽ thì chất vấn mới thực sự có hiệu quả. Cần dành thời lượng thích đáng cho phiên chất vấn, trả lời chất vấn và tốt nhất nên tổ chức truyền hình, truyền thanh trực tiếp nhằm tạo điều kiện để đông đảo cử tri theo dõi giám sát, thẩm định trách nhiệm chính trị của các vị đại biểu dân cử và thủ trưởng các cơ quan công quyền, góp phần làm cho không khí kỳ họp HĐND diễn ra nghiêm túc và sinh động hơn.

Gắn trách nhiệm của tổ đại biểu HĐND với việc nắm bắt tình hình địa phương. Ở Từ Liêm, Thường trực HĐND huyện ban hành văn bản đôn đốc các Tổ đại biểu trước kỳ họp phải thu thập ý kiến cử tri, mỗi tổ cần tổng hợp 1 đến 2 vấn đề cử tri quan tâm để đưa vào nội dung chất vấn. Trên cơ sở ý kiến tổng hợp từ các tổ, Thường trực HĐND sẽ lựa chọn những vấn đề có tính bao quát, bức xúc, xảy ra tại nhiều địa phương để chuyển đến UBND xem xét, trả lời. Cách làm này đã gắn được trách nhiệm của đại biểu với đơn vị bầu cử, bước đầu giảm bớt biểu hiện né tránh, nể nang và tăng được số đại biểu chất vấn trực tiếp tại kỳ họp.

Đưa kiến nghị, yêu cầu sau giám sát và những ý kiến cử tri chậm được xử lý giải quyết thành nội dung chất vấn tại kỳ họp. Giải pháp này buộc thành viên các ban HĐND đã thực hiện giám sát đưa ra yêu cầu, kiến nghị, đại biểu HĐND tiếp thu ý kiến cử tri gửi cơ quan có chức năng nhiều lần nhưng chưa được trả lời hoặc giải quyết chưa dứt điểm phải đưa ra chất vấn tại kỳ họp. Thực tế cho thấy, những vấn đề đưa ra được chọn lọc kỹ, có xác minh lại thì chất vấn đạt kết quả tích cực.

Bên cạnh đó cần bổ sung, hoàn thiện những quy định pháp luật về hoạt động chất vấn, trả lời chất vấn. Cụ thể, các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay chỉ qui định trình tự, thủ tục trả lời chất vấn mà chưa có biện pháp chế tài cụ thể để đảm bảo người bị chất vấn nghiêm túc thực hiện những vấn đề đã hứa trước HĐND, trước đại biểu HĐND thực hiện quyền chất vấn. Điều này khiến người có quyền chất vấn thì ngại chất vấn, người có nghĩa vụ trả lời thì có thể chống chế, hứa hẹn mà không có trách nhiệm pháp lý nào để bắt buộc họ thực hiện. Do vậy, cần phải bổ sung, hoàn thiện các văn bản pháp luật có liên quan theo hướng quy định chế tài đủ mạnh, cụ thể đối với người bị chất vấn.

Về phía HĐND các cấp, cần có sự đổi mới cơ cấu đại biểu HĐND: tăng đại biểu chuyên trách có trình độ chuyên môn và năng lực thực tiễn, giảm đại biểu là cán bộ cơ quan quản lý nhà nước vì thực tế hiện nay cho thấy các đại biểu kiêm nhiệm thường ít chất vấn do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có nguyên nhân nể nang, ngại va chạm; có giải pháp tích cực nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm trong bản thân mỗi đại biểu dân cử. Bên cạnh đó, có sự tham gia tích cực của đại diện các tầng lớp cử tri, các phương tiện thông tin đại chúng trong quá trình chất vấn và trả lời chất vấn./.

THƯỜNG TRỰC HĐND HUYỆN TỪ LIÊM

 

Lượt xem: 368

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.