Nâng cao hiệu quả đôn đốc, giám sát giải quyết kiến nghị cử tri

Thực hiện Đề án số 15-ĐA/TU về “Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp thành phố Hà Nội giai đoạn 2021-2026 gắn với thực hiện thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị và củng cố chính quyền nông thôn tại thành phố Hà Nội”, Thường trực HĐND thành phố và các quận, huyện, thị xã đã quan tâm đến tiếp xúc cử tri, tổng hợp gửi các cơ quan có thẩm quyền để giải quyết và giám sát việc giải quyết theo quy định.

Thực hiện Đề án số 15-ĐA/TU ngày 12/5/2022 của Thành ủy Hà Nội về “Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp thành phố Hà Nội giai đoạn 2021-2026 gắn với thực hiện thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị và củng cố chính quyền nông thôn tại thành phố Hà Nội”, Thường trực HĐND thành phố và các quận, huyện, thị xã đã quan tâm đến tiếp xúc cử tri, tổng hợp gửi các cơ quan có thẩm quyền để giải quyết và giám sát việc giải quyết theo quy định.
 
Nhiều kiến nghị tập trung vào các lĩnh vực quản lý nhà nước
 
Từ đầu nhiệm kỳ 2021-2026 đến nay, Thường trực HĐND thành phố đã tổng hợp 1.801 ý kiến, kiến nghị của cử tri. Các kiến nghị tập trung vào các lĩnh vực quản lý nhà nước trên địa bàn. Sau khi nhận được kiến nghị của cử tri, UBND thành phố đã giao nhiệm vụ cho các ngành, các cấp liên quan kiểm tra, rà soát việc giải quyết, trả lời cử tri; tổng hợp và báo cáo HĐND thành phố kết quả thực hiện đúng thời hạn yêu cầu. 
 
Tuy vậy, theo dõi tại kỳ họp thứ 12 HĐND thành phố tháng 7-2023 cho thấy, đến nay, còn 271 kiến nghị đang giải quyết (trên tổng số 1.593 kiến nghị, tỷ lệ 17%). Các kiến nghị đang giải quyết chủ yếu liên quan đến đề nghị đầu tư xây dựng hạ tầng, trường học, thực hiện chương trình nông thôn mới, triển khai dự án ngoài đê sông Hồng, các dự án bảo vệ môi trường, xử lý rác thải, nước thải tại các làng nghề... là những vấn đề phức tạp, sử dụng vốn lớn, phải rà soát, cân đối, sắp xếp trong kế hoạch đầu tư công trung hạn nên cần có thời gian triển khai theo trình tự, thủ tục, xử lý, không thể giải quyết ngay. 
 
Phó Bí thư Thường trực Quận ủy, Chủ tịch HĐND quận Cầu Giấy Nguyễn Văn Chiến cho biết, công tác tiếp nhận, đôn đốc các cơ quan có thẩm quyền giải quyết các kiến nghị của cử tri được Thường trực HĐND quận chỉ đạo sát sao. Nhờ đó, 82% kiến nghị của cử tri được giải quyết, góp phần ổn định tình hình ở cơ sở.  
 
Hay như ở Tây Hồ, Bí thư Quận ủy, Chủ tịch HĐND quận Lê Thị Thu Hằng cũng cho rằng, công tác giải quyết kiến nghị của cử tri có chuyển biến tích cực. Từ đầu nhiệm kỳ 2021-2026 đến nay, toàn quận có 220 ý kiến cử tri và đã trả lời 220 (tỷ lệ 100%); đến nay có 182 ý kiến giải quyết xong (tỷ lệ 82,7%), đang giải quyết 38 ý kiến ( tỷ lệ 17,3%). 
 
“Việc tổng hợp, theo dõi, đôn đốc, giám sát giải quyết kiến nghị cử tri được Thường trực HĐND các cấp thành phố, đặc biệt là cấp huyện thực hiện đổi mới, quy củ, đúng quy định và đạt chất lượng, hiệu quả rất thiết thực. Trong đó, HĐND thành phố và một số đơn vị đã ban hành các nghị quyết về giải quyết kiến nghị cử tri thường xuyên tại các kỳ họp thường lệ là bước tiến quan trọng nâng cao chất lượng giải quyết kiến nghị, thể hiện đúng tinh thần trách nhiệm của cơ quan dân cử, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cử tri” - Phó Chủ tịch Thường trực HĐND thành phố Phùng Thị Hồng Hà nhận định.
 
Kinh nghiệm cần phát huy
 
Dù có nhiều cố gắng, song mới đây, tại hội nghị giao ban về công tác tổng hợp, theo dõi, đôn đốc, giám sát giải quyết kiến nghị cử tri của Thường trực HĐND các cấp thành phố Hà Nội, nhiều đại biểu cho rằng, việc tổng hợp, thông tin kết quả giải quyết, trả lời của các cơ quan có thẩm quyền đến cử tri còn chưa rộng khắp. 
 
Đại biểu HĐND các quận huyện: Hà Đông, Đống Đa, Mê Linh, Thanh Trì, Phú Xuyên, Ba Vì…cho rằng, một số nơi, công tác theo dõi, giám sát việc giải quyết của các ban HĐND đối với lĩnh vực phụ trách và của tổ đại biểu đối với các kiến nghị cử tri trên địa bàn còn chưa chặt chẽ, kỹ càng. Việc giám sát kết quả trả lời, giải quyết kiến nghị cử tri đã từng bước được đổi mới, triển khai hiệu quả nhưng còn chung chung, chưa kỹ và sâu, đi vào cụ thể các vấn đề trong việc giải quyết, tiến độ thực hiện, các cam kết trước đó để nâng cao hiệu quả thực chất việc giải quyết của các cơ quan có thẩm quyền. 
 
Đáng lưu ý, công tác quản lý nhà nước tại một số địa phương, trên một số lĩnh vực còn hạn chế, thiếu sót, nhất là công tác quản lý đất đai, quản lý quy hoạch, trật tự xây dựng và quản lý đô thị, quản lý nhà chung cư; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xác nhận nguồn gốc đất và việc thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư để thực hiện các dự án. Nhiều vụ việc tồn đọng, kéo dài qua các thời kỳ, quá trình giải quyết phải thu thập nhiều tài liệu, chứng cứ, trong khi việc lưu trữ tài liệu trong lĩnh vực quản lý đất đai ở cấp cơ sở còn hạn chế; quá trình chuyển đổi vị trí công tác, bàn giao nhiệm vụ, tài liệu không đầy đủ, ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ và chất lượng giải quyết. Bộ máy giúp việc của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử về công tác tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, xử lý đơn thư; theo dõi, giám sát việc giải quyết, trả lời khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh còn thiếu về số lượng chậm được bổ sung, có nơi yếu về chất lượng.
 
Để hoạt động tiếp xúc cử tri, giải quyết kiến nghị cử tri hợp tình, hợp lý đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của công dân, mỗi đại biểu HĐND các cấp cần không ngừng cải tiến, đổi mới phương thức tổ chức hoạt động trên các mặt. Trong đó, Thường trực HĐND các cấp tăng cường tập huấn, bồi dưỡng kiến thức cho đại biểu HĐND và công chức tham mưu, giúp việc về công tác tiếp xúc cử tri, kỹ năng tiếp công dân, giám sát giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu, mục tiêu đã đề ra. Gắn bó mật thiết với cử tri, liên hệ thường xuyên với cử tri không chỉ là nhiệm vụ của đại biểu HĐND được pháp luật quy định, mà còn là yêu cầu bức thiết để HĐND và đại biểu HĐND nắm bắt được thực tiễn, nguyện vọng, ý chí của người dân và làm tròn trách nhiệm là người đại diện cho tiếng nói, ý chí và nguyện vọng của cử tri.
 
Chánh Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND thành phố Nguyễn Ngọc Việt cho rằng, để nâng cao chất lượng, cần thiết ngay ở HĐND các cấp, nên có quy trình tổng hợp, theo dõi, đôn đốc, giám sát giải quyết kiến nghị cử tri và công tác theo dõi, đôn đốc, giám sát giải quyết đơn thư kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân một cách chi tiết, khoa học, hiệu quả và triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, phần mềm chuyên biệt. 
 
Đặc biệt, bộ phận giúp việc lĩnh vực này cần có kinh nghiệm, trình độ, để tham mưu, rà soát, phân loại, tổng hợp kiến nghị cử tri; tăng cường các hình thức trao đổi, tuyên truyền, phổ biến thông tin về kết quả trả lời, giải quyết của các cơ quan chức năng tới cử tri; qua đó các kiến nghị cử tri được tổng hợp đảm bảo rõ ràng về nội dung, tránh tình trạng chung chung, không đúng thẩm quyền giải quyết./.

Lượt xem: 18812

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.