Nâng cao vai trò và bản lĩnh của đại biểu HĐND

Qua thực tiễn hoạt động, nhiều đại biểu HĐND đã nêu cao tinh thần, trách nhiệm, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật và tham gia vào công tác quản lý nhà nước; tham dự đầy đủ các kỳ họp, phiên họp của HĐND, tham gia thảo luận, biểu quyết trên tinh thần dân chủ, xây dựng đối với các nội dung được trình tại kỳ họp HĐND; liên hệ chặt chẽ với cử tri, thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri.

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, chất lượng hoạt động của HĐND các cấp phụ thuộc chủ yếu và được quyết định bởi chất lượng hoạt động của đại biểu HĐND. Muốn HĐND hoạt động hiệu quả, thực sự là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, là nơi bảo đảm cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ, đòi hỏi hoạt động của người đại biểu phải luôn đổi mới, mà trước hết phải đổi mới từ nhận thức.

Qua thực tiễn hoạt động, nhiều đại biểu HĐND đã nêu cao tinh thần, trách nhiệm, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, gương mẫu chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương; tích cực học tập, nghiên cứu, đổi mới phương pháp làm việc, thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật; thực hiện tốt chức năng quyết định và giám sát, ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu đổi mới của cơ quan dân cử và nguyện vọng của cử tri. Đa số đại biểu HĐND tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật và tham gia vào công tác quản lý nhà nước; tham dự đầy đủ các kỳ họp, phiên họp của HĐND, tham gia thảo luận, biểu quyết trên tinh thần dân chủ, xây dựng đối với các nội dung được trình tại kỳ họp HĐND; liên hệ chặt chẽ với cử tri, thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri.

Sau mỗi kỳ họp HĐND, đại biểu HĐND báo cáo với cử tri về kết quả của kỳ họp, phổ biến và giải thích các nghị quyết của HĐND, vận động và cùng với nhân dân thực hiện các nghị quyết đó. Qua tiếp xúc cử tri và thực tiễn hoạt động, nhiều đại biểu đã phát hiện những vấn đề mang tính nổi cộm, bức xúc ở địa phương, từ đó có ý kiến chất vấn với các cơ quan liên quan hoặc kiến nghị với Thường trực HĐND, các ban của HĐND để tổ chức các đoàn giám sát nhằm làm rõ trách nhiệm và đề xuất các giải pháp khắc phục. Nhiều vấn đề đã được đại biểu chất vấn và tái chất vấn đến cùng tại kỳ họp đã thể hiện  bản lĩnh, tâm huyết của đại biểu trong hoạt động dân cử. Việc các đại biểu HĐND và lãnh đạo các ngành, đơn vị tranh luận, đối thoại công khai tại phiên chất vấn và trước khi tiến hành biểu quyết ban hành nghị quyết tại các kỳ họp, cho thấy HĐND thực sự là của dân, do dân và vì dân. Cử tri ngày càng tin tưởng vào HĐND bởi các đại biểu dân cử đã nói lên tiếng nói của người dân, lấy lợi ích của nhân dân làm cơ sở ban hành các quyết sách đúng, trúng, có tính khả thi cao.

Tuy nhiên, cũng từ hoạt động của HĐND cho thấy, một số đại biểu HĐND kiêm nhiệm, đại biểu không phải là thành viên các Ban của HĐND thường ít tham gia vào hoạt động của Thường trực và các Ban của HĐND, ít tham gia thảo luận, đóng góp tại diễn đàn kỳ họp (có đại biểu cả nhiệm kỳ không có ý kiến nào phát biểu tại kỳ họp) hoặc có tham gia đóng góp nhưng chưa đầy đủ, chất lượng chưa cao. Nguyên nhân chủ yếu là do nắm thông tin không đầy đủ, kịp thời; do tính chất kiêm nhiệm của phần lớn đại biểu HĐND nên thời gian, công sức dành cho hoạt động của cơ quan dân cử còn hạn chế, các đại biểu cũng không có nhiều điều kiện và thời gian tiếp cận với các nguồn thông tin cần thiết để phục vụ hoạt động. Tại mỗi kỳ họp các đại biểu không chuyên trách, các đại biểu đang công tác tại các cơ quan chuyên môn của UBND thường ít tham gia phát biểu thảo luận hay chất vấn so với các đại biểu chuyên trách, các đại biểu đang công tác ở các tổ chức đoàn thể, chính trị…

Để “HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương” đúng nghĩa của nó thì mỗi người đại biểu HĐND phải xác định đúng vị trí, vai trò và nhiệm vụ là “người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương”. Từ đó chủ động, tích cực tham gia các hoạt động thuộc trách nhiệm của người đại biểu, thể hiện đầy đủ quyền hạn của mình trên các lĩnh vực hoạt động của Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, Tổ đại biểu HĐND và nhiệm vụ của người đại biểu HĐND. Bên cạnh trách nhiệm và lòng nhiệt huyết còn đòi hỏi mỗi người đại biểu phải không ngừng nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, trau dồi kiến thức, kỹ năng hoạt động đại biểu để thực hiện ngày càng tốt hơn trách nhiệm của mình. “Hiệu quả hoạt động của HĐND được đảm bảo bằng hiệu quả của các kỳ họp HĐND”, cho nên đại biểu HĐND phải chủ động nghiên cứu tài liệu, thể hiện đầy đủ trách nhiệm và bản lĩnh của mình trong hoạt động chất vấn; tích cực tham gia thảo luận, tranh luận tại diễn đàn kỳ họp để làm sáng tỏ các vấn đề; cùng HĐND bàn bạc và đi đến quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả của kỳ họp HĐND.

Cần tăng số lượng đại biểu HĐND chuyên trách. Đối với các ban của HĐND, cần lựa chọn những thành viên am hiểu sâu các chuyên ngành, lĩnh vực hoạt động để khi tổ chức thẩm tra, giám sát các thông tin đưa ra chính xác, luận cứ thuyết phục, giúp các quyết định, kiến nghị giám sát của HĐND có chất lượng. Phải phát huy vai trò của đại biểu HĐND trong việc thực thi nhiệm vụ, chủ động và tích cực tham gia, tăng cường hiệu quả hoạt động các ban của HĐND. Điều quan trọng hơn cả là phải nâng cao năng lực và tăng tính chuyên nghiệp của đại biểu, để làm được điều này, cấp ủy cần tập trung lãnh đạo việc quy hoạch những người sẽ ứng cử vào HĐND, nhất là việc quy hoạch các đại biểu chuyên trách. Cần cân nhắc làm thế nào để vừa bảo đảm tính cơ cấu (vùng miền, dân tộc, tôn giáo, các lĩnh vực kinh tế - xã hội quan trọng…), vừa bảo đảm tiêu chuẩn đạo đức, năng lực của đại biểu; không nên nặng về cơ cấu mà xem nhẹ tiêu chuẩn năng lực. Chỉ có những đại biểu tâm huyết, có trình độ, am hiểu sâu sắc về các lĩnh vực kinh tế - xã hội thì mới có những ý kiến đóng góp thiết thực, làm cho các quyết định của HĐND có chất lượng, đi vào cuộc sống. Bên cạnh đó, đại biểu HĐND phải có trình độ chuyên môn phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và trình độ về lý luận chính trị; có khả năng về phân tích chính sách, thu thập và xử lý thông tin; có khả năng thuyết phục và tạo sự đồng thuận của xã hội theo phương thức hoạt động của cơ quan dân cử; ngoài ra phải có kỹ năng, kinh nghiệm trong hoạt động HĐND. Thực tế cho thấy, để nâng cao hiệu quả hoạt động HĐND thì vấn đề cốt lõi là nâng cao trình độ và bản lĩnh của đại biểu. Chỉ khi đại biểu HĐND hiểu chính xác, nắm rõ vấn đề và tự tin bảo vệ quan điểm chính đáng của mình thì HĐND mới có được những quyết định đúng, khả năng thực thi cao.

Có chế độ cung cấp thông tin, tài liệu, nhất là các chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước, các văn bản pháp luật mới được ban hành, các thông tin về tình hình kinh tế - xã hội của địa phương cho đại biểu HĐND. Bên cạnh đó, mỗi đại biểu phải chủ động, tích cực nắm bắt thông tin, tình hình thực tế của địa phương thông qua hoạt động tiếp xúc cử tri hoặc các hình thức khác để tham gia thực hiện tốt công tác giám sát, thẩm tra, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng tại kỳ họp. Quan tâm công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng hoạt động cho các đại biểu bằng nhiều hình thức; đồng thời tạo điều kiện tốt nhất để các đại biểu thực hiện tốt vai trò là đại biểu của dân./.

TÚ ANH

Lượt xem: 515

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.