Quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội và đối tượng phải trả lời chất vấn được quy định thế nào trong Hiến pháp

Chế định chất vấn đã được quy định ngay từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013 của nước ta. Trải qua 13 khóa Quốc hội, hoạt động chất vấn đã và đang có những bước tiến bộ, hiệu quả; Dân chủ trong hoạt động của Quốc hội ngày càng được phát huy mạnh mẽ và rộng rãi, được cử tri và các tầng lớp nhân dân ghi nhận.

Chế định chất vấn đã được quy định ngay từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013 của nước ta. Trải qua 13 khóa Quốc hội, hoạt động chất vấn đã và đang có những bước tiến bộ, hiệu quả; Dân chủ trong hoạt động của Quốc hội ngày càng được phát huy mạnh mẽ và rộng rãi, được cử tri và các tầng lớp nhân dân ghi nhận.

Chất vấn là một hình thức giám sát tối cao của Quốc hội, là quyền của đại biểu Quốc hội. Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn là một trong những nội dung cơ bản tại các kỳ họp của Quốc hội. Đây cũng là một nội dung mang tính chất thời sự, được đông dảo cử tri, các tầng lớp nhân dân, các cơ quan thông tấn, báo chí trong và ngoài nước chú ý theo dõi, bình luận và đánh giá không chỉ đối với người chất vấn, người trả lời chất vấn, người điều hành kỳ họp, mà còn coi đó là một yếu tố rất quan trọng đánh giá vai trò, vị trí của Quốc hội Việt Nam - cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Viẹt Nam. Kể từ khi có Quốc hội (tháng 1 năm 1946) hoạt động chất vấn đã được thực hiện tại nghị trường qua các kỳ họp. Chất vấn là quyền của cá nhân đại biểu nhưng khi thực hiện, chất vấn tại nghị trường lại là hoạt động của Quốc hội. Quốc hội thực hiện quyền lực nhà nước tại mỗi kỳ họp, buộc các đối tượng bị chất vấn phải trả lời trước toàn thể Quốc hội, hoặc trả lời bằng văn bản riêng cho đại biểu có chất vấn.

Đối tượng trả lời chất vấn được mở rộng dần qua mỗi bản hiến pháp. Hiến pháp năm 1946 Điều 55 quy định: “Các Bộ trưởng phải trả lời bằng thư từ hoặc bằng lời nói những điều chất vấn của Nghị viện hoặc của Ban Thường vụ. Kỳ hạn trả lời chậm nhất là 10 ngày sau khi nhận được thư chất vấn”.

Nếu Hiến pháp năm 1946 quy định chỉ có bộ trưởng phải trả lời chất vấn thì đến Hiến pháp năm 1959, bộ trưởng và các thành viên khác của Hội đồng Chính phủ đến Phó Thủ tướng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, đều phải trả lời chất vấn.Điều 59 quy định: “Các đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Hội đồng Chính phủ và các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ. Cơ quan bị chất vấn phải trả lời trong thời hạn năm ngày; trường hợp phải điều tra thì thời hạn trả lời là một tháng”.

Đến Hiến pháp năm 1980, Điều 95 quy định: “Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Hội đồng Bộ trưởng và các thành viên của Hội đồng Bộ trưởng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Cơ quan hoặc người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội trong kỳ họp của Quốc hội. Trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước Hội đồng Nhà nước hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội.

Đại biểu Quốc hội có quyền kiến nghị với các cơ quan nhà nước. Những người phụ trách các cơ quan này có trách nhiệm tiếp đại biểu, xem xét và giải quyết những kiến nghị của đại biểu”. So với Hiến pháp năm 1959 thì quy định trên có thêm 02 đối tượng phải trả lời chất vấn, đó là: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001-QH10, ngày 25-12-2001 của Quốc hội khóa X , tiếp tục mở rộng thêm đối tượng bị chất vấn đó là: Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội; Tiếp đến là người đứng đầu các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang cũng phải trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội yêu cầu.Điều 98 quy định:

“Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp; trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội hoặc cho trả lời bằng văn bản.

Đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội quan tâm. Người phụ trách các cơ quan, tổ chức, đơn vị này có trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội yêu cầu trong thời hạn luật định”(4).

Kế thừa các quy định tại các bản Hiến pháp trước, Hiến pháp năm 2013, Điều 80 cơ bản quy định tương tự như Điều 98 Hiến pháp năm 1992 chỉ tăng thêm một đối tượng phải trả lời chất vấn, đó là Tổng Kiểm toán nhà nước. Điều 80 quy định về chất vấn của đại biểu Quốc hội như sau:

“1- Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước.

2- Người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp hoặc tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội; trong trường hợp cần thiết, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho trả lời bằng văn bản.

3- Đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội yêu cầu trong thời gian nhất định.”

Như vậy, có thể thấy chế định chất vấn đã được quy định tại 5 bản Hiến pháp, từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013. Các bản Hiến pháp sau đã kế thừa và hoàn thiện hơn các quy định về hoạt động chất vấn của Quốc hội. Đáng chú ý là Quốc hội khóa XI còn ban hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội.Điều 11 về Chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp quy định:

“Tại kỳ họp Quốc hội, việc chất vấn và trả lời chất vấn được thực hiện như sau:

1. Đại biểu Quốc hội ghi rõ nội dung chất vấn, người bị chất vấn vào phiếu ghi chất vấn và gửi đến Chủ tịch Quốc hội để chuyển đến người bị chất vấn. Đoàn thư ký kỳ họp giúp Chủ tịch Quốc hội tổng hợp các chất vấn của đại biểu Quốc hội để báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

2. Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến danh sách những người có trách nhiệm trả lời chất vấn tại kỳ họp và báo cáo Quốc hội quyết định;

3. Việc trả lời chất vấn tại phiên họp toàn thể của Quốc hội được tiến hành theo trình tự sau đây:

a) Người bị chất vấn trả lời trực tiếp, đầy đủ nội dung các vấn đề mà đại biểu Quốc hội đã chất vấn và xác định rõ trách nhiệm, biện pháp khắc phục;

b) Đại biểu Quốc hội có thể nêu câu hỏi liên quan đến nội dung đã chất vấn để người bị chất vấn trả lời.

Thời gian trả lời chất vấn, thời gian nêu câu hỏi và trả lời thêm được thực hiện theo quy định tại Điều 43 của Nội quy kỳ họp Quốc hội;

4. Sau khi nghe trả lời chất vấn, nếu đại biểu Quốc hội không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Quốc hội tiếp tục thảo luận tại phiên họp đó, đưa ra thảo luận tại phiên họp khác của Quốc hội hoặc kiến nghị Quốc hội xem xét trách nhiệm đối với người bị chất vấn. Quốc hội ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn khi xét thấy cần thiết;

5. Người đã trả lời chất vấn tại kỳ họp Quốc hội, tại phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc đã trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội bằng văn bản có trách nhiệm báo cáo với các đại biểu Quốc hội bằng văn bản về việc thực hiện những vấn đề đã hứa khi trả lời chất vấn tại kỳ họp tiếp theo.”

Có thể đánh giá rằng, trải qua quá trình xây dựng và phát triển của Nhà nước ta, qua hoạt động giám sát bằng hình thức chất vấn của Đại biểu Quốc hội, của Quốc hội quyền lực nhà nước được kiểm soát và được quy định ngày càng chặt chẽ hơn; tất cả những người đứng đầu các cơ quan nhà nước đều phải chịu sự giám sát trực tiếp, thường xuyên của Quốc hội nói chung, đều phải trả lời chất vấn trước nghị trường Quốc hội khi đại biểu chất vấn. Nếu các Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 chưa quy định rõ ràng, dứt khoát người bị chất vấn bắt buộc phải trả lời trước Quốc hội thì Hiến pháp các năm 1980, 1992 và đặc biệt Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định dứt khoát: người đứng đầu các cơ quan nhà nước nhất thiết phải trả lời chất vấn trước Quốc hội. Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn cả trong thời gian kỳ họp và thời gian giữa hai kỳ họp trong suốt cả nhiệm kỳ Quốc hội. Chất vấn và trả lời chất vấn có sự đối thoại, trao đổi, tranh luận qua lại giữa đại biểu Quốc hội với người bị chất vấn, thậm chí truy vấn đến cùng để làm sáng tỏ một vấn đề, một sự kiện. Tất cả những vấn đề đó nói lên rằng, dân chủ trong hoạt động của Quốc hội ngày càng được phát huy mạnh mẽ và rộng rãi.

Tuy nhiên, để hoạt động này có được hiệu quả hơn nữa đòi hỏi đại biểu dân cử (trong đó có đại biểu Quốc hội) phải không ngừng nâng cao phẩm chất, trí tuệ và bản lĩnh;. Đại biểu phải chất vấn đúng luật, đúng người, đúng việc, rõ ràng và cụ thể, đúng tâm tư nguyện vọng của cử tri và các tầng lớp nhân dân. Người trả lời chất vấn phải nêu cao ý thức trách nhiệm, trả lời cụ thể vào những vấn đề, nội dung chất vấn, hứa khắc phục sửa chữa phải rõ trách nhiệm và thời hạn… Bên cạnh đó Quốc hội cũng cần hoạt thiện bổ sung trong Luật Giám sát và các đạo luật liên quan về các chế định cụ thể chế tài sau giám sát. Ví dụ: Đại diện các cơ quan Nhà nước khi trả lời chất vấn phải đúng rõ ràng biện pháp khắc phục sửa chữa, nếu không thực hiện đúng thì chính người đứng đầu cơ quan này sẽ chịu chế tài gì?...Có như vậy hoạt động giám sát nói chung và hoạt động chất vấn nói riêng mới thiết thực và hiệu quả góp phần xây dưng, phát triển và bảo vệ đất nước; đáp ứng được các yêu cầu kiến nghị, tâm tư, nguyện vọng của cử tri, tạo dựng được niềm tin sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân./.

 NGUYỄN XUÂN DIÊN

Lượt xem: 3815

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.