Sự lãnh đạo sâu sát, trách nhiệm cao của Đảng là biện pháp quan trọng nhất bảo đảm việc lấy phiếu tín nhiệm đạt hiệu quả

Quy định về lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm theo Nghị quyết 35/2012/QH13 của Quốc hội khóa XIII là một bước đột phá trong nhiệm vụ xây dựng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Nghị quyết đã được các tầng lớp nhân dân đón nhận, hy vọng vào một tương lai phát triển của quốc gia, dân tộc.

                                                                                       Thành Tâm

          Để xây dựng và đảm bảo cho bộ máy các cơ quan nhà nước hoạt động có hiệu quả; việc lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn chính là một trong các giải pháp quan trọng bậc nhất. Nhưng muốn thực hiện tốt giải pháp này, cấp ủy Đảng và mỗi đảng viên phải nhận thức đẩy đủ, đồng thời phải nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm khi thực thi nguyên lý lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của mình. Bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ. 

       Quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội hoặc HĐND bầu hoặc phê chuẩn được quy định trong Hiến pháp năm 1992(được Quốc hội sửa đổi, bổ sung năm 2001), trong Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 và Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003. Nghị quyết số 35/2012/QH13 của Quốc hội về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn được xem như một bước đi nữa nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật và Nghị quyết TƯ 4 Khóa XI về "Một số vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”. Trong bối cảnh thế giới và tình hình KT-XH, QP-AN của nước ta hiện nay có nhiều những khó khăn, phức tạp, việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn mới thật thấm thía là một việc đại sự của quốc gia vì những người giữ các chức vụ ở Trung ương và nhưng người giữ các chức vụ ở địa phương được đưa ra lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm kỳ này đều là những chức vụ quan trọng nhất; sự tốt xấu của họ có hệ lụy rất lớn đến sự tồn vong của thể chế chính trị, sự thụt lùi hay phát triển của quốc gia, dân tộc. Làm tốt công tác này, chính là củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào Nhà nước…

      Ở các địa phương, khi đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri trước Kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIII vừa qua, nhiều cử tri là lão thành cách mạng, các tầng lớp nhân dân đã đặt câu hỏi: Vì sao việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm lại chậm được thực hiện, nói cách khác là mười năm qua chưa được quan tâm thực hiện? Mổ sẻ trách nhiệm này thật khó. Ở bài viết này xin chỉ bàn khi đã có Nghị quyết số 35/2012/QH13 của Quốc hội về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn rồi, thì biện pháp nào để thực hiện có chất lượng, hiệu quả, bảo đảm đúng mục đích tại điều 3 của Nghị quyết là: Việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân; giúp người được lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm thấy được mức độ tín nhiệm của mình để phấn đấu, rèn luyện, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động; làm cơ sở để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ.

       Trước hết phải thừa nhận rằng quy định về lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm theo Nghị quyết 35/2012/QH13 của Quốc hội khóa XIII là một bước đột phá trong nhiệm vụ xây dựng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Nghị quyết đã được các tầng lớp nhân dân đón nhận, hy vọng vào một tương lai phát triển của quốc gia, dân tộc. Ngay sau khi có Nghị quyết số 35/2012/QH13, UBTVQH đã ban hành tiếp Nghị quyết số 561/2013/UBTVQH13 ngày 16/01/2013, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam cũng đã ban hành Hướng dẫn số 93/HD-MTTW-BTT ngày 11/4/2013 để hướng dẫn thực hiện việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn. Theo lộ trình Kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khóa XIII và kỳ họp thường kỳ giữa năm 2013 của HĐND các cấp sẽ triển khai thực hiện ngay được việc lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn. Tại Kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khóa XIII có 49 chức danh phải lấy phiếu tín nhiệm; còn HĐND các cấp phải căn cứ số chức danh chủ chốt đã được HĐND bầu hoặc phê chuẩn. Với những người mới được bổ nhiệm hoặc phê chuẩn mà thời gian giữ chức vụ chưa đủ một năm thì chưa đưa ra xem xét lấy phiếu tín nhiệm tại kỳ họp này. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để việc lấy phiếu hết sức khách quan, công tâm, không mang tính hình thức, tỷ lệ phiếu phản ánh đúng thực chất đúng nguyên tắc tại điều 4 của Nghị quyết là: Công khai, công bằng, dân chủ, khách quan; bảo đảm đánh giá đúng thực chất kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của người được lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm. Đề cao trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; bảo đảm tiêu chuẩn của người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn; bảo đảm sự ổn định và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, sự lãnh đạo của Đảng trong công tác cán bộ”. Trong nhiều giải pháp, có lẽ giải pháp quan trọng nhất vẫn thuộc về vai trò, vị trí, trách nhiệm của Đảng.

       Vì sao như vậy, tại Điều 4 Hiến pháp 1992 quy định rõ: Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Từ khi có Đảng, trong quá trình đấu tranh, xây dựng, bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN, vai trò, vị trí, công lao to lớn của Đảng đã và đang được khẳng định gắn liền với vận mệnh của quốc gia, dân tộc. Các quy định của Hiến pháp, pháp luật đều trên cơ sở cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng. Trong quá trình quản lý nhà nước, để hoàn thành được chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ quan nhà nước không thể thoát lý khỏi sự lãnh đạo của đảng. Xây dựng Việt Nam là một nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân cũng chính là mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Điều lệ Đảng và các Nghị quyết của Đảng đều quy định rất rõ nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo về công tác cán bộ.  

       Hiện nay, trong bộ máy các cơ quan nhà nước ta, các chức vụ cao do Quốc hội và HĐND bầu hoặc phê chuẩn đều do đảng viên đảm trách. Trong Quốc hội và HĐND đa số đại biểu là đảng viên. Cơ cấu ĐBQH Khóa XIII có tới trên 95% là đảng viên, cơ cấu đại biểu HĐND các cấp cả nước nhiệm kỳ 2011-2016 có trên 90% là đảng viên. Các đại biểu dân cử này, trước khi hiệp thương để đưa ra bầu, họ cũng được các tổ chức Đảng xem xét phân công ra ứng cử. Như vậy càng khẳng định rằng vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng với cơ cấu tổ chức và hoạt động của Quốc hội, HĐND. Những người được đưa ra lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đều là đảng viên, đang thay mặt quốc dân đồng bào cả nước, địa phương để đảm trách những nhiệm vụ rất quan trọng của quốc gia, của Đảng và nhà nước. Có những người do các tổ chức đảng cấp Trung ương quản lý, có những người do các tổ chức Đảng ở địa phương quản lý. Họ được Đảng cử, dân bầu. Với vai trò, vị trí quan trọng đó, những việc làm tốt, xấu của họ chẳng những ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của đất nước, của từng địa phương mà ở một số vị trí còn ảnh hưởng đến sự tồn vong của quốc gia, lợi ích của dân tộc… Trong hoạt động thực hiện quyền và nhiệm vụ, cùng với việc tuân thủ các quy định của Hiến pháp, pháp luật thì đại biểu là đảng viên sẽ phải tuân thủ Điều lệ Đảng, sự chỉ đạo của tổ chức Đảng. Với tỷ lệ đa số ở các cơ quan dân cử như vậy, nếu mỗi đảng viên không được quán triệt về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm; nếu không nâng cao trách nhiệm, tính chiến đấu của người đảng viên, buông xuôi, mang lợi ích cá nhân thì khó mang lại hiệu quả như mong muốn.

    Trong Kỳ họp thứ 5 này, theo quy định, Quốc hội đã yêu cầu 49 chức danh được lấy phiếu tín nhiệm có bản báo cáo giải trình về kết quả công tác, đạo đức, tác phong của mình. Các bản báo cáo này đã gửi đến tất cả đại biểu Quốc hội trước 20 ngày theo đúng quy định. Ngoài ra, để có thông tin nhiều chiều trước khi đánh giá tín nhiệm, các đại biểu căn cứ vào kết quả giám sát của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, căn cứ vào kết quả công tác thực tiễn của các chức danh mà đại biểu chứng kiến, đặc biệt là thông qua lắng nghe ý kiến nhân dân để có thể đánh giá chính xác.

       Ở các địa phương, kỳ họp giữa năm thường diễn ra vào trong khoảng cuối tháng 6, đầu tháng 7. các đối tượng phải lấy phiếu tín nhiệm cũng sẽ phải làm báo cáo đánh giá về "Kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật đối với chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn; Tự đánh giá về các nội dung tu dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; Giải trình về ý kiến, kiến nghị của cử tri do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc chuyn đến (nếu có). Các cấp ủy đảng từ Trung ương đến địa phương nên xem xét quyết định bên cạnh việc quan triệt, lãnh đạo thực hiện đúng hướng dẫn cách làm cụ thể, chặt chẽ, rõ trách nhiệm của UBTVQH thì từ kinh nghiệm của việc tổ chức kiểm điểm, đánh giá đảng viên theo tinh thần Nghị quyết TW 4, các cấp ủy Đảng và từng đảng viên phải vào cuộc với tinh thần trách nhiệm cao, sâu sát và quyết liệt để việc lấy phiếu tín nhiệm thực sự hiệu quả. Bên cạnh đó, tổ chức Đảng cũng nên công khai các ưu, khuyết điểm qua kiểm điểm theo Nghị quyết TW 4 và kiểm điểm, bình xét đảng viên hàng năm (tính từ đầu nhiệm kỳ) của người giữ chức vụ phải đưa ra lấy phiếu tín nhiệm. Ủy ban kiểm tra Đảng các cấp, trên cơ sở đó đối chiếu, xem xét đánh giá, kịp thời xử lý kỷ luật đảng khi phát hiện có sự thiếu trung thực…Tin rằng nếu quy trình lấy phiếu tín nhiệm được lãnh đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, công tâm, tin chắc người được lấy phiếu tín nhiệm và nhân dân sẽ hào hứng đón nhận sự kiện này như một sinh hoạt chính trị thường xuyên. Đây cũng chính là mục đích mà Nghị quyết TW 4 đề ra, làm cơ sở cho công tác quy hoạch, đào tạo và sử dụng cán bộ phục vụ yêu cầu nhiệm vụ xây dựng, phát triển và bảo vệ tổ quốc.         

       Nghị quyết số 35/2012/QH13 của Quốc hội về lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn là việc làm mới nhưng hết sức quan trọng. Để bảo đảm thành công thì công tác lãnh đạo, chỉ đạo trước hết phải đúng Hiến pháp và pháp luật, sâu sát, quyết liệt và đồng bộ. Từ khi có Đảng lãnh đạo, trong tâm trí của các tầng lớp nhân dân, thì Đảng cộng sản Việt Nam là người tổ chức, lãnh đạo thực hiện mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Với truyền thống và niềm tin đó, để xây dựng một nhà nước Việt Nam xứng đáng là của dân, do dân và vì dân; bảo đảm lợi ích của quốc gia và của dân tộc là mục đích trên hết; hy vọng các cấp ủy Đảng và mỗi đảng viên sẽ hiểu phải làm gì khi thực thi nguyên lý lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, thực hiện thành công việc lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn ./.    

Lượt xem: 378

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.