Suy nghĩ về tư tưởng, đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng thấy hành vi gây lãng phí cần phải xử lý nghiêm minh

Từ thực tiến cuộc sống, ông cha ta xưa đã đúc rút lại kinh nghiệm hay còn goi là cẩm nang quy báu truyền lại cho đời sau rằng: “Buôn bè không bằng dè tiêu”, “Buôn thúng bán bè không bằng ăn dè ở tiện”. Trong suốt chiều dài của lịch sử đấu tranh chông ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ non sông bờ cõi, chủ quyền dân tộc, trong sản xuất, xây dựng, tiêu dùng, trong chiến đấu, chính việc tiết kiệm như thế nào, lúc nào, ở đâu, đối tượng nào phải tiết kiệm, ai có trách nhiệm quản lý, điều hành việc thực hành tiết kiệm, xử lý việc lãng phí… được coi như là một kế sách quan trọng làm nên mọi thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta.

Từ thực tiến cuộc sống, ông cha ta xưa đã đúc rút lại kinh nghiệm hay còn goi là cẩm nang quy báu truyền lại cho đời sau rằng: “Buôn bè không bằng dè tiêu”, “Buôn thúng bán bè không bằng ăn dè ở tiện”. Trong suốt chiều dài của lịch sử đấu tranh chông ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ non sông bờ cõi, chủ quyền dân tộc, trong sản xuất, xây dựng, tiêu dùng, trong chiến đấu, chính việc tiết kiệm như thế nào, lúc nào, ở đâu, đối tượng nào phải tiết kiệm, ai có trách nhiệm quản lý, điều hành việc thực hành tiết kiệm, xử lý việc lãng phí…  được coi như là một kế sách quan trọng làm nên mọi thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta.

Bác Hồ đánh máy chữ (Ảnh tư liệu)

Chẳng phải đến bây giờ chúng ta mới thấy sự nguy hiểm và tác hại ghê gớm của hành vi gây lãng phí đối với mỗi gia đình, công đồng và đối với sự phát triển, sống còn của quốc gia. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ “giặc ở trong lòng”, là kẻ thù của nhân dân, của Chính phủ, nó không mang gươm, mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta để làm hỏng công việc của ta… Theo Bác, tham ô là trộm cướp; Lãng phí cũng gây tai hại không thua kém cho nhân dân, cho Nhà nước; Có khi tai hại hơn nạn tham ô. Lãng phí bao gồm nhiều mặt: Lãng phí sức lao động; lãng phí thời gian; lãng phí tiền của Nhà nước, cơ quan và bản thân; lãng phí tài nguyên thiên nhiên, của cải vật chất… Người cũng chỉ ra nguồn gốc, nguyên nhân chủ yếu của “căn bệnh lãng phí” đó là, xuất phát từ bệnh quan liêu, vô trách nhiệm, vô cảm, bên cạnh đó là sự yếu kém của đội ngũ cán bộ, bệnh phô trương hình thức, thái độ thiếu tinh thần bảo vệ của công… Ở trong điều kiện nào đó, tình cảnh nào đó lãng phí  coi là một thứ “giặc nội xâm” rất nguy hiểm, vô tình hoặc có trường hợp cố ý tiếp tay cho giặc, phá hoại, chống lại nhân dân, chống lại Đảng và Nhà nước ta. Trong kháng chiến chống pháp, chính Người đã yêu cầu xử bắn đối với một sĩ quan cao cấp làm công tác hậu cần trong quân đội vì có hành vi tham ô, lãng phí.

Để thực hiện chống căn bệnh tham ô, lãng phí có hiệu quả, Người cho rằng: Kiên quyết đấu tranh xóa bỏ triệt để bệnh quan liêu, đấu tranh chống bệnh chủ nghĩa cá nhân; Đẩy mạnh thực hành tiết kiệm trong mọi lĩnh vực, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi. Theo Người, tiết kiệm không phải là bủn xỉn mà là sử dụng hợp lý, có kế hoạch nhưng vẫn đạt được mục tiêu. “Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng. Như thế mới đúng là tiết kiệm”; Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mọi người, mọi tổ chức, cơ quan, đơn vị cùng tham gia phong trào thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Cán bộ, đảng viên phải là người tiên phong, gương mẫu. “Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước… Hô hào tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước”; Dựa vào quần chúng nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân để phòng, chống “căn bệnh” tham ô, lãng phí…

Có thể nói, cùng với những lời dạy về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, thì chính cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực, minh chứng về đạo đức cách mạng, suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị để toàn Đảng, toàn dân học tập, noi theo. Kể cả trong Di chúc của mình, Bác cũng không quên căn dặn việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí “Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thời giờ và tiền bạc của nhân dân”    

Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã được Quốc hội khóa XI thông qua năm 2005 và có hiệu lực từ ngày 1-6-2006. Sau gần 8 năm thực hiện, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được bổ sung sửa đổi, Quốc hội khóa XIII đã thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2013. Luật đã tạo được khung pháp lý có giá trị cao và đồng bộ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Nhìn cung các kết quả về tiết kiệm có khá hơn, nhưng tình trạng lãng phí vẫn chưa ngăn chặn được. Tại Kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XIII, trong Báo cáo của Chính phủ đã thừa nhận “Tình trạng lãng phí chưa ngăn chặn được, vẫn xảy ra trên nhiều lĩnh vực”. Cho đến Kỳ họp thứ 10, Quốc hội Khóa XIII, trong báo cáo của Chính phủ vẫn lặp lại rằng “Tình trạng lãng phí vẫn chưa được ngăn chặn hiệu quả, vẫn còn xảy ra ở nhiều lĩnh vực, nhiều nơi…”

Rõ ràng một thực tế không thể phủ nhận, vẫn tồn tại, chưa thấy cải biến gì, thậm trí còn nặng nề hơn đó là nhìn đâu cũng vẫn thấy: quy hoạch “treo” dự án khu đô thị, khu, cụm, điểm công nghiệp; thu hồi đất, giải phóng mặt bằng hảng trăm ngàn héc ta đất rồi bỏ trống; dự án triển khai dang dở rồi “đắp chiếu”; rất ít khu, cụm, điểm công nghiệp có tỷ lệ lấp đầy các dự án; các công trình, dự án chất lượng xây dựng kém, hiệu quả sử dụng thấp; một loạt tỉnh đầu tư hàng ngàn tỷ vào việc xây dựng Khu trụ sở; việc mở quá nhiều trường Đại học theo các loại hình đào tạo công lập, dân lập thất nghiệp, khiến cho sinh viên ra trường không xin được việc làm (đó là chưa kể làm trái với chuyên môn được đào tạo nên khi đi làm phải đào tạo lại, rồi chất lượng đào tạo thấp, hàng ngàn Thạc sĩ, Tiến sĩ chất lượng không xứng tầm,…); hàng chục ngàn đề tài khoa học kinh phí nhà nước phải chi hàng ngàn tỷ, nhưng tỷ lệ đề tài đem ra ứng dụng mạng lại hiệu quả không tới 5 % Trong khi đó những người nông dân nghèo khó lại sáng chế ra nhiều loại máy nông nghiệp, hiệu quả; thậm trí còn sáng chế ra cả Tàu ngầm mi ni, Máy bay…Ở công sở nào cũng vẫn còn thấy việc lãng phí thời gian, nguồn lực, sử dụng  tài sản công một cách vô tội vạ theo kiểu “cha chung không ai khóc”; tuyển dụng dư thừa đội ngũ công chức, viên chức dẫn đến khoảng 1/3 công chức, viên chức “sáng cắp ô đi, chiều cắp ô về”; trong tiếp khách, họp hành, lễ hội, hiếu, hỷ, trang bị cơ sở vật chất; thủ tục hành chính rườm rà, chậm được giải quyết v.v

Gần đây, tại nghị trường của Quốc hội cũng như ở nghị trường HĐND nhiều tỉnh, thành phố, các đại biểu đã lên tiếng mạnh mẽ phê phán và yêu cầu cần xem xét lại các quyết định không đúng tình hình thực tế của đất nước và địa phương đã gây nên lãng phí vô cùng lớn. Có đại biểu Quốc hội nói:“Chỉ cần một quyết định của nhà nước sai ngay từ khi ban hành đã gây lãng phí rồi”. “Ở nước ta ra quyết định là cá nhân nhưng chịu trách nhiệm lại tập thể khi xảy ra chuyện. Thử so sánh một người làm lãng phí 1 tỉ đồng với người ra quyết định gây lãng phí hàng nghìn tỉ đồng thì sẽ thấy cơ chế quy trách nhiệm hiện nay đang không rõ ràng. Đã đến lúc cần xác định trách nhiệm cá nhân rõ ràng”. Có dự án ngay từ khi bắt đầu đầu tư đã có nhiều chuyên gia nêu ý kiến phản biện, can ngăn vì cho rằng không hiệu quả thế nhưng vẫn được thực hiện. Thế nhưng việc quy trách nhiệm cũng không được thực hiện và không biết quy cho ai.

Đại biểu Ngô Thị Minh, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh cũng dẫn thực trạng các dự án khi xét riêng thì có vẻ không thấy lãng phí, nhưng thực ra rất lãng phí. Cụ thể như việc làm đường xong rồi lại đào bới lên, vỉa hè cày tung, gây lãng phí cản trở đi lại ảnh hưởng cuộc sống của nhân dân nhưng không biết quy trách nhiệm cho ai.  Nhiều ý kiến thảo luận đề xuất cần phải làm rõ trách nhiệm cá nhân để hạn chế lãng phí ngay từ khi dự án còn nằm trên giấy. Lãng phí ghê gớm như vậy nhưng theo đại biểu Võ Thị Dung, Đoàn ĐBQH TP.HCM cho rằng: “Nếu chỉ vận động tuyên truyền phòng chống lãnh phí thôi thì không khả thi. Cần phải có chế tài nghiêm minh, nếu gây hậu quả lớn phải quy định thành tội phạm hình sự thì mới khả thi”. Chia sẻ với các ý kiến trên, đại biểu Trần Hoàng Ngân, Đoàn ĐBQH TP.HCM cho rằng cần phải có chế tài xử lý hành chính và phải xử lý hình sự nếu gây lãng phí lớn. ĐB Đỗ Văn Đương, Ủy viên thường trực UBTP của Quốc hội cũng đề nghị: “Nên đưa vào Bộ luật Hình sự chế tài hành vi gây lãng phí ngang bằng với hành vi tham nhũng. Đồng thời, phải tăng tính minh bạch trong sử dụng vốn, tài sản nhà nước. Chứ cứ đóng kín cửa còn dân đứng bên ngoài thì làm sao giám sát, phát hiện ra lãng phí được”. Cũng theo ông Đương, phải quy trách nhiệm người đứng đầu trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. “Lãnh đạo phải làm gương chứ làm sếp mà lấy xe công đưa vợ về quê, đi chùa thì nói sao được cấp dưới. Làm sếp là phải đặt kỷ luật lên đầu tiên và nếu để vi phạm nghiêm trọng thì phải truy cứu hình sự”.

Trước thực trạng về lãng phí như vậy, nhiều Đại biểu Quốc hội thể hiện quan điểm cho rằng, với diễn biến lãng phí ngày càng nghiêm trọng như hiện nay thì cần “nâng cấp” lên thành “quốc nạn”. Xem ra “căn bệnh” lãng phí ở nước ta hiện nay đã đến hồi “báo động đỏ” ở mức rất nguy hiểm. Thực trạng lãng phí đã và đang là vấn đề bức xúc, gây tác hại to lớn cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, làm xói mòn niềm tin của người dân với Đảng, với các cấp chính quyền.

Thực trạng lãng phí nói trên tất cả chúng ta ai cũng đều cảm nhận và thấy được, nhưng dường như “cuộc chiến” với lãng phí vẫn bế tắc, chưa tìm ra lời giải thỏa đáng. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí sao khó thế? Phải chăng đây là “bài toán khó tìm ra đáp số?. Về thực trạng này, Đảng ta cũng phải nhìn nhận thẳng thắn: "… Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí vẫn chưa đạt yêu cầu và mục tiêu đề ra là ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí. Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, xảy ra trên nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành…". Đó là một phần trong Kết luận (số 21-KL/TƯ) Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI).

Nguyên nhân của tình trạng này có nhiều, trong đó có một số nguyên nhân quan trọng như:

Một là, mặc dù Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí đã được bổ sung sửa đổi, nhưng nội dung nặng về hình thức tuyên truyền, không rõ chế tài, nhất là trách nhiệm của những tập thể lãnh đạo và cá nhân người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức trong việc chấp hành các quy định của pháp luật, quản lý về sử dụng ngân sách, tài sản công, khai thác các nguồn lực.

Hai là, công tác giám sát nhà nước của Quốc hội, Hội đồng nhân dân vẫn chưa đáp ứng yêu cầu và thực tế; giám sát chưa chuyên sâu, tái giám sát ít, chưa giám sát đến cùng về một vụ việc, vấn đề, đôi khi có vụ việc, vấn đề còn ngại va chạm, chưa thể hiện rõ quan điểm; nhiều địa phương, HĐND cũng chưa thật quan tâm đến việc xử lý sau giám sát…Hoạt động giám sát cộng đồng của MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội khác và nhất là giám sát của nhân dân chưa được phát huy, quyền và phạm vi giám sát không rõ, nên khó xử lý.

Ba là, thiệt hại, thất thoát dó hành vi lãng phí gây ra rất lớn, không thể tính đếm hết được, có thể so sánh không thua kém gì tham nhũng, lãng phí còn được coi như nguồn của tham nhũng, song hành cùng tham nhũng. Nhưng xem ra từ khi ban hành Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đến nay chúng ta chưa có cá nhân, tổ chức nào bị xử lý về hành vi lãng phí gây hậu quả lớn. Chính sự không nghiêm này đã làm cho lãng phí sinh sôi nảy nở!

Bốn là, không hiểu vì lẽ gì mà Bộ luật hình sự của Nhà nước ta lại chưa đưa, chưa coi hành vi lãng phí là tội? Thật là “chuyên thật như bịa”. Trong khi luật pháp một số nước khác như: Nga, Đức, Pháp, Mỹ, Trung quốc, Nhật Bản và ngay gần chúng ta đây là Thái Lan họ đều coi lãng phí là tội phạm nguy hiểm cần xử lý bằng pháp luật hình sự. Có lẽ vị thế mà đã tiếp tay cho những kẻ tham nhũng lãng phí chăng?

Năm là, phải thừa nhận trong những nhiệm kỳ qua, Quốc hội của chúng ta rất coi trọng chức năng, nhiệm vụ làm luật. Hiện nay hệ thống pháp luật của nhà nước ta khá toàn diện và đồng bộ trên khắp các lĩnh vực quan hệ xã hội, quản lý nhà nước…Nhưng kỳ họp nào Quốc hội cũng nghe và tham gia ý kiến vào các báo cáo kinh tế xã hội; báo cáo về kết quả công tác phòng chống tham nhũng lãng phí... Đã có nhiều đại biểu Quốc hội thấy và lo lắng về hậu quả lãng phí, có kiến nghị đưa thành tội danh trong Bộ luật hình sự. Nhưng không hiểu vì lẽ gì lãng phí - hành vi nguy hiểm, làm mất uy tín của cơ quan công quyền, làm suy giảm niềm tin của nhân dân, hệ lụy có thể dẫn đến đe doa cả sự tồn vong của chế độ, vậy mà vẫn “bị bỏ lọt”? Đây có lẽ là một nguyên nhân rất dễ và cũng rất khó khắc phục nếu Quốc hội không thể hiện rõ quan điểm và trách nhiệm cao trước nhân dân…

Có rất nhiều giải pháp, nhưng thiết nghĩ trước hết là Đảng phải lãnh đạo sâu sát trong việc tuyên truyền tư tường đạo đức của Hồ Chí Minh đến với mỗi đảng viên để thấm nhuần quan điểm tư tưởng của Người về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Đảng cũng phải tăng cường công tác kiểm tra đảng viên, tổ chức đảng; nghiêm túc kiểm điểm, đánh giá đúng công tác lãnh đạo, công tác quản lý, giới thiệu, bố trí đảng viên trong các cơ quan, tổ chức …của nhà nước. Kiên quyết xử lý nghiêm minh những đảng viên có hành vi vi phạm về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Hai là, Quốc hội cần thể hiện trách nhiệm và có quan điểm đúng đắn rõ ràng hơn khi tiếp tục nghiên cứu bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong đó có Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Bộ luật hình sự; Luật giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân đối với việc xử lý hành vi lãng phí. Tăng cường và chuyên sâu hơn nữa công tác giám sát, có quan điểm xử lý kieemn quyết đối với các hành vi sai phạm, trong đó có hành vi lãng phí…

Ba là, các cơ quan Nhà nước nhất là Chính phủ cần xem xét lại công tác tuyển dụng, bổ nhiệm, đề bạt bố trí cán bộ, công chức nhất là các vị trí quan trọng, then chốt…Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân kiên quyết xử lý nghiêm minh các hành vi gây lãng phí đã xảy ra; coi đây là biện pháp răn đe, cảnh tỉnh, bảo đảm kỷ cương trong việc quản lý, sự dụng tải sản, nguồn lực của nhà nước và nhân dân. Bên cạnh đó các cơ quan, các tổ chức, đoàn thể…cũng cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu; xây dựng được các nội quy, quy chế hoạt động trong nội bộ bảo đảm phù hợp pháp luât, phù hợp thực tế, không để xảy ra lãng phí. Các cấp, các ngành, đoàn thể cần khuyến khích và phát huy các hoạt động tích cực về giám sát cộng đồng trong nhân dân…/.  

Nguyễn Xuân Diên

Lượt xem: 829

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.