Thông báo kết quả trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri – Việc nhỏ, làm tốt, hiệu quả sẽ cao

Thông báo nhanh chóng, công khai, rộng rãi các văn bản trả lời của các cơ quan có thẩm quyền đối với các ý kiến, kiến nghị của cử tri. Các hình thức thông báo như qua các Trang thông tin điện tử của cơ quan dân cử, của cơ quan có thẩm quyền, của các địa phương; qua hệ thống truyền thanh cơ sở; các báo, đài địa phương. Bên cạnh đó, gửi văn bản trả lời theo từng nhóm cử tri về tới địa phương để có các hình thức thông báo tới cử tri qua các hội nghị họp dân, hội nghị TXCT, công khai tại Trụ sở…

Đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp là người đại diện cho cử tri, đại biểu cho ‎ý chí, nguyện vọng của cử tri, nhân dân, phải thường xuyên liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, tiếp xúc với cử tri, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri… Do đó, tiếp xúc cử tri (TXCT) là một nhiệm vụ quan trọng, hoạt động đặc thù của đại biểu, của cơ quan dân cử. Thông qua việc TXCT, mối quan hệ giữa đại biểu dân cử với cử tri, với nhân dân ngày càng được thắt chặt; đồng thời, những bức xúc từ cuộc sống, những ý kiến, kiến nghị được cử tri gửi gắm cho đại biểu để chuyển đến các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết.

Cử tri huyện Chương Mỹ trong buổi TXCT với ĐBQH thành phố Hà Nội ngày 21/9/2015

Trong thời gian qua, hoạt động TXCT ngày càng được đổi mới, đi vào nề nếp, có chiều sâu; mối quan hệ giữa đại biểu dân cử và cử tri ngày càng được củng cố, gắn bó chặt chẽ. Đại biểu dân cử ngày càng tăng cường vai trò, trách nhiệm, cử tri ngày càng có ý thức cao hơn trong việc tham gia đóng góp ý kiến, kiến nghị xây dựng chính quyền, xây dựng quê hương, đất nước.

Về cơ bản các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi nhận được ý kiến, kiến nghị của cử tri đã khẩn trương xem xét, nghiên cứu trả lời cử tri với thái độ nghiêm túc, có trách nhiệm. Nhiều ý kiến, kiến nghị đã được giải quyết một cách thấu đáo, tháo gỡ được những khó khăn, bức xúc, đáp ứng lòng mong đợi của cử tri. Kết quả giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri đã góp phần từng bước nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội của địa phương, đất nước.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, hiệu quả của hoạt động TXCT trong thời gian qua vẫn còn bộc lộ những bất cập: Một số đại biểu dân cử chưa thật sự quan tâm; hình thức tổ chức TXCT chưa phong phú, đa dạng như: TXCT nơi làm việc, nơi cư trú, TXCT theo chuyên đề, gặp gỡ, tiếp xúc với cá nhân, với nhóm cử tri; số cuộc TXCT, thời gian gặp gỡ cử tri hàng năm chưa nhiều, thường chỉ là TXCT theo định kỳ trước và sau mỗi kỳ họp Quốc hội, HĐND... Công tác tập hợp, tổng hợp, phân loại ý kiến, kiến nghị của cử tri đôi lúc còn chậm, lúng túng, thiếu chính xác, chưa phân loại rõ ý kiến nào thuộc thẩm quyền của trung ương, tỉnh, huyện, xã để chuyển đến đúng địa chỉ giải quyết; những ý kiến nào đã được giải quyết, trả lời trước đó mà chưa có diễn biến mới. Việc chuyển, theo dõi, đôn đốc cơ quan chức năng giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri chưa được quan tâm thường xuyên, chưa quyết liệt. Các cơ quan quản lý Nhà nước các cấp chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm phối hợp trong việc tham gia TXCT cùng đại biểu dân cử để kịp thời tiếp thu, giải trình, trả lời những ý kiến, kiến nghị của cử tri thuộc thẩm quyền. Ý thức của một bộ phận cử tri chưa cao, phát biểu ý kiến nặng về khiếu nại, tố cáo mang tính cá biệt, hoặc ý kiến chưa sát thẩm quyền của đại biểu tiếp xúc; ý kiến mang tính suy diễn, phiến diện, một chiều và chậm cập nhật thông tin, tình hình mới…

Việc thông báo trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri được thực hiện qua việc đại biểu TXCT trình bày trực tiếp nội dung văn bản trả lời của cơ quan có thẩm quyền đối với ý kiến, kiến nghị của cử tri tại các kỳ tiếp xúc trước đó; gửi văn bản tới cử tri trước buổi tiếp xúc; giải trình, trả lời trực tiếp của đại diện cơ quan có thẩm quyền trong buổi tiếp xúc; ngoài ra còn có thể thông tin, cập nhật văn bản, nội dung trả lời qua các phương tiện thông tin đại chúng.

Thực tế tại nhiều buổi TXCT hiện nay, việc thông báo, trình bày các văn bản như thông báo về kết quả kỳ họp hoặc chương trình nội dung, thời gian của kỳ họp sắp tới; báo cáo về kết quả tình hình kinh tế - xã hội của địa phương và thông báo kết quả trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri tại các buổi tiếp xúc trước chủ yếu là đọc văn bản, với thời lượng không nhỏ của phần mở đầu buổi tiếp xúc. Phần đọc này có khả năng thu hút cử tri không cao. Riêng nội dung thông báo trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri lại phụ thuộc rất lớn vào khả năng tổng hợp, lựa chọn, trình bày của đại biểu. Bởi vì số lượng câu trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri đều khá lớn; phạm vi, quy mô, lĩnh vực rộng; phần trả lời riêng đối với từng địa phương nhiều khi không rõ, không tập trung đối với cử tri nơi tiếp xúc trực tiếp…

Thực tế cho thấy, việc thông báo trả lời ý kiến cử tri chỉ là một phần trong cả quá trình TXCT, tuy nhiên nếu làm được tốt thì hiệu quả tác động khá lớn và thực chất. Trên cơ sở thực tiễn hoạt động của Đoàn ĐBQH, HĐND thành phố Hà Nội có thể nêu ra một số giải pháp hữu ích:

- Thông báo nhanh chóng, công khai, rộng rãi các văn bản trả lời của các cơ quan có thẩm quyền đối với các ý kiến, kiến nghị của cử tri. Các hình thức thông báo như qua các Trang thông tin điện tử của cơ quan dân cử, của cơ quan có thẩm quyền, của các địa phương; qua hệ thống truyền thanh cơ sở; các báo, đài địa phương. Bên cạnh đó, gửi văn bản trả lời theo từng nhóm cử tri về tới địa phương để có các hình thức thông báo tới cử tri qua các hội nghị họp dân, hội nghị TXCT, công khai tại Trụ sở… Qua đó, các ý kiến, kiến nghị được trả lời rõ, được công khai rộng rãi, thu hút được đông đảo cử tri, nhân dân theo dõi, giám sát. Nhiều ý kiến, kiến nghị đã được trả lời rồi thì cử tri có thể theo dõi, tổng hợp để không hỏi lại nữa hoặc có hình thức trình bày, nêu kiến nghị về quá trình giải quyết. Đồng thời cũng khắc phục được tình trạng, cử tri của địa phương này có ý kiến, kiến nghị nhưng lại chỉ được thông báo trả lời trước cử tri tại địa phương khác (do địa điểm TXCT trước và sau mỗi kỳ họp khác nhau). Thực tế hiện nay, Đoàn ĐBQH, HĐND Thành phố đều đã công khai, cập nhật nhanh chóng các nội dung, văn bản trả lời của các cơ quan, đơn vị chức năng lên Trang thông tin điện tử và đề nghị các cơ quan thông tấn báo chí của Thủ đô cùng đăng tải; một số nội dung có tính phổ cập, được dư luận quan tâm được đăng tải riêng trong các chuyên mục trả lời ý kiến cử tri. Ngoài ra, một số địa phương như quận Hà Đông cũng đã tuyên truyền hàng ngày qua hệ thống truyền thanh cơ sở được đông đảo cư tri, nhân dân tiếp thu.

- Trước hội nghị TXCT có thể và tuy từng điều kiện của địa phương, quy mô của buổi tiếp xúc để có thể phô tô, phát các tài liệu về trả lời ý kiến, kiến nghị trực tiếp tới cử tri tham dự. Việc này đang được Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội thực hiện tại các buổi TXCT đảm bảo hiệu quả khá, qua đó việc trình bày nội dung trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri tại hội nghị có thể được tóm lược lại; cử tri có thể theo dõi, lưu giữ, phản hồi trực tiếp đối với các ý kiến trả lời; đồng thời cũng tránh nêu ra các ý kiến trùng, đã được trả lời cụ thể.  

- Nâng cao chất lượng việc đại biểu dân cử trình bày thông báo trả lời ý kiến cử tri của các cơ quan có thẩm quyền. Theo đó, lựa chọn phần thông báo trả lời có tính đại diện, phù hợp với cử tri nơi tiếp xúc, có tính thời sự cao, được đông đảo cử tri, nhân dân quan tâm. Trình bày theo dạng tổng hợp các vấn đề, có thể tóm lược, đi thẳng vào các nội dung chính, diễn biến mới nhất và các cam kết, giải pháp đưa ra của các cơ quan chức năng; tránh tình trạng đọc nguyên văn bản… Muốn làm tốt điều này thì bản thân đại biểu dân cử phải hiểu, nắm chắc các vấn đề của đơn vị nơi mình ứng cử; có khả năng tổng hợp, trình bày vấn đề tốt; nghiên cứu, nắm chắc các vấn đề tổng hợp ý kiến cử tri và phần trả lời của các cơ quan có thẩm quyền. Kinh nghiệm của một số Tổ đại biểu Quốc hội, HĐND các cấp trên địa bàn Thủ đô trong thời gian là việc điều hòa, phân công đại biểu trong Tổ nghiên cứu, nắm vững chắc và chuyên về nội dung ý kiến, kiến nghị cử tri để tổng hợp, trình bày hiệu quả.

- Khuyến khích và sử dụng tốt hình thức mời đại diện các cơ quan chức năng giải trình trực tiếp các vấn đề cử tri có ý kiến tại buổi TXCT. Qua đó tạo sự giao lưu, đối thoại, trả lời trực tiếp nhằm giải quyết thiết thực, thỏa đáng các vấn đề cử tri nêu.

- Ngoài ra, tiếp tục duy trì và phổ biến các hình thức tiếp nhận ý kiến, kiến nghị cử tri, nhân dân và chuyển tới các cơ quan chức năng để trả lời, thông báo công khai qua các phương tiện thông tin đại chúng và trực tiếp tới cử tri có ý kiến ngoài các buổi TXCT tập trung….

QUỐC THỊNH

Lượt xem: 640

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.