Thực tiễn và kinh nghiệm nâng cao chất lượng công tác thẩm tra đề án, dự thảo nghị quyết chuyên đề về lĩnh vực văn hóa – xã hội

Do thực hiện nghiêm túc trình tự các bước của công tác thẩm tra nên hoạt động thẩm tra của Ban Văn hóa- Xã hội HĐND Thành phố ngày càng nề nếp, hiệu quả, chất lượng thẩm tra ngày càng được nâng cao, về cơ bản báo cáo thẩm tra của Ban đã được đa số đại biểu tán thành, được UBND Thành phố, cơ quan chủ trì soạn thảo và các cơ quan hữu quan nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý đầy đủ, qua đó góp phần nâng cao chất lượng kỳ họp, các quyết nghị được thông qua cũng như nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND Thành phố...

Thực hiện chương trình công tác năm 2015, Ban Văn hóa- Xã hội HĐND thành phố Hà Nội tổ chức hội nghị chuyên đề với Ban Kinh tế- Xã hội HĐND các quận, huyện, thị xã để thảo luận, trao đổi chuyên đề Thực tiễn và kinh nghiệm nâng cao chất lượng công tác thẩm tra đề án, dự thảo nghị quyết chuyên đề về lĩnh vực văn hóa – xã hộivới mong muốn đánh giá một cách khách quan, toàn diện những kết quả đạt được, cũng như những khó khăn, hạn chế trong công tác thẩm tra các Đề án, dự thảo nghị quyết chuyên đề của các Ban HĐND trong thời gian qua, đồng thời đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng công tác thẩm tra Đề án, dự thảo nghị quyết chuyên đề trong lĩnh vực văn hóa- xã hội trong thời gian tới. Hội nghị sẽ được tổ chức vào ngày 08/4/2015 tại huyện Thạch Thất.

Trang thông tin hoạt động của Đoàn ĐBQH và HĐND thành phố Hà Nội trích dẫn Đề cương chuyên đề của Ban Văn hóa- Xã hội HĐND thành phố Hà Nội về Thực tiễn và kinh nghiệm nâng cao chất lượng công tác thẩm tra đề án, dự thảo nghị quyết chuyên đề về lĩnh vực văn hóa – xã hội

I. Thực tiễn hoạt động thẩm tra dự thảo nghị quyết chuyên đề của Ban Văn hóa- Xã hội HĐND Thành phố từ đầu nhiệm kỳ 2011- 2016 đến nay.

1. Kết quả đạt được

Từ đầu nhiệm kỳ 2011 - 2016 đến nay, HĐND Thành phố tiến hành 11 kỳ họp, trong đó thông qua 16 Nghị quyết chuyên đề thuộc lĩnh vực văn hóa - xã hội. Ban Văn hóa – Xã hội HĐND Thành phố được giao nhiệm vụ thẩm tra các báo cáo, đề án, tờ trình liên quan. Thực hiện nhiệm vụ được giao, để nâng cao chất lượng báo cáo thẩm tra Ban đã chủ động thực hiện tốt các bước và trình tự của công tác thẩm tra cụ thể như sau:

-  Xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên.

-  Thu thập thông tin: Thông tin đóng vai trò rất quan trọng, vì thế các thành viên của Ban không chỉ lấy thông tin từ các báo cáo của UBND, của các ngành mà còn thu thập qua hoạt động khảo sát, giám sát, qua các buổi tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp. Các thành viên của Ban còn chủ động phối hợp chặt chẽ với các ngành, cơ quan có liên quan trong suốt quá trình chuẩn bị nội dung và tại buổi thẩm tra; đầu tư nghiên cứu sâu tài liệu, tham khảo các văn bản pháp luật có liên quan.

- Xây dựng dự thảo báo cáo thẩm tra có nội dung sâu với những nội dung cơ bản sau:

+ Thẩm tra hồ sơ trình tại kỳ họp

          + Thẩm tra tính khách quan, độ tin cậy của số liệu về đánh giá thực trạng, những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân, những vấn đề cần tập trung giải quyết của  đề án, dự thảo nghị quyết.

+ Thẩm tra tính pháp lý và sự cần thiết ban hành nghị quyết

          + Thẩm tra, mục tiêu, chỉ tiêu, lộ trình thực hiện, nguồn lực đảm bảo và giải pháp thực hiện

          + Thẩm tra dự thảo nghị quyết, xem có đảm bảo đúng thể thức văn bản không, nội dung nghị quyết có phù hợp với nội dung của đề án không?

- Trong quá trình thẩm tra, các thành viên của Ban luôn đề cao tinh thần trách nhiệm trước cử tri và nhân dân, chủ động nghiên cứu trước tài liệu, chuẩn bị ý kiến để tham gia phát biểu tại buổi thẩm tra. Đặc biệt, người chủ trì buổi thẩm tra điều hành linh hoạt, gợi ý các vấn đề để thành viên Ban, các đại biểu tham gia ý kiến thảo luận, giải trình làm rõ vấn đề trọng tâm của ngành, đơn vị. Trên cơ sở các ý kiến, Ban Văn  hóa – Xã hội HĐND Thành phố chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện báo cáo thẩm tra chính thức để trình tại kỳ họp.

Do thực hiện nghiêm túc trình tự các bước của công tác thẩm tra nên hoạt động thẩm tra của Ban Văn hóa- Xã hội HĐND Thành phố ngày càng nề nếp, hiệu quả, chất lượng thẩm tra ngày càng được nâng cao, về cơ bản báo cáo thẩm tra của Ban đã được đa số đại biểu tán thành, được UBND Thành phố, cơ quan chủ trì soạn thảo và các cơ quan hữu quan nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý đầy đủ, qua đó góp phần nâng cao chất lượng kỳ họp, các quyết nghị được thông qua cũng như nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND Thành phố.

 2. Một số khó khăn, hạn chế

          Qua hoạt động thẩm tra cho thấy, việc thực hiện công tác thẩm tra của Ban Văn hóa – Xã hội HĐND Thành phố gặp một số khó khăn:

- UBND Thành phố, các ngành gửi tài liệu, hồ sơ một số báo cáo, đề án, tờ trình dự thảo Nghị quyết còn thiếu chưa đảm bảo theo quy định, chất lượng còn hạn chế và ngay sát ngày họp thẩm tra nên ảnh hưởng nhiều đến việc nghiên cứu, tiếp cận hồ sơ của thành viên Ban HĐND và đại biểu dự họp, dẫn đến thông tin không đầy đủ, thiếu thời gian nghiên cứu ảnh hưởng đến chất lượng xây dựng dự thảo báo cáo thẩm tra.

- Một số nguyên nhân khác cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo thẩm tra. Đó là lĩnh vực văn hóa – xã hội rất rộng, một số nội dung vượt ra ngoài lĩnh vực công tác của các thành viên. Hơn nữa, thành viên Ban hầu hết hoạt động kiêm nhiệm, ít có các chuyên gia am hiểu các lĩnh vực chuyên sâu, thời gian nghiên cứu tài liệu phục vụ thẩm tra chưa nhiều, khả năng phản biện vấn đề của một số đại biểu còn hạn chế; đội ngũ chuyên viên giúp việc Ban kiến thức thực tiễn chưa nhiều ảnh hưởng đến công tác tham mưu, giúp việc nên một số báo cáo thẩm tra chất lượng chưa cao.

II. Kinh nghiệm từ thực tiễn và giải pháp thực hiện

Từ thực tế hoạt động thẩm tra đề án, dự thảo nghị quyết chuyên đề trình kỳ họp trong thời gian qua, để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động này trong thời gian tới, Ban Văn hóa –Xã hội HĐND Thành phố rút ra một số kinh nghiệm và giải pháp thực hiện như sau:

1. Chủ động tham mưu cho HĐND những vấn đề cần phải ban hành nghị quyết chuyên đề thuộc lĩnh vực văn hóa – xã hội để thông qua Chương trình xây dựng nghị quyết năm sau vào kỳ họp cuối năm trước.

2. UBND các cấp, các ngành, đơn vị phải nâng cao nhận thức về thẩm quyền thẩm tra của các Ban HĐND tạo điều kiện để các Ban hoạt động thẩm tra, nhất là việc hoàn thiện sớm hồ sơ, tài liệu trình kỳ họp HĐND để các Ban có đủ thời gian thẩm tra.

3. Thành viên Ban kiêm nhiệm cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, thực hiện tốt vai trò chức năng, nhiệm vụ; tích cực tiếp cận thực tế và lắng nghe ý kiến cử tri để thu thập thông tin. Đối với những thành viên Ban công tác trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND, cần phát huy hiểu biết, tri thức, kinh nghiệm của mình trong lĩnh vực công tác, tránh tình trạng né tránh, nể nang.

4. Lãnh đạo và thành viên Ban, chuyên viên giúp việc thường xuyên nghiên cứu, cập nhật, quán triệt sâu sắc, nắm vững các nghị quyết, đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các văn bản quy phạm pháp luật của các Bộ, ngành liên quan đến lĩnh vực thẩm tra; chủ trương của cấp ủy Đảng, nghị quyết của HĐND Thành phố; các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch, quy hoạch phát triển của từng ngành, lĩnh vực...; tình hình kinh tế - xã hội của địa phương để làm căn cứ xây dựng báo cáo thẩm tra. Khi thẩm tra cần chú trọng đối chiếu nội dung trình với nghị quyết của cấp ủy và văn bản pháp luật liên quan.

5. Thực hiện tốt việc giám sát và khảo sát thực tế nhất là các vấn đề liên quan đến phạm vi, đối tượng điều chỉnh, mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và nguồn lực đảm bảo để thực thi nghị quyết. Trong quá trình khảo sát cần quan tâm thu thập thông tin nhiều chiều, làm rõ bối cảnh, điều kiện cụ thể của vấn đề được giải quyết. Ngoài ra, Ban cần chú trọng tổ chức các hội nghị, hội thảo chuyên đề trưng cầu ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học để thu thập thông tin, tài liệu, cứ liệu, kinh nghiệm hay, cách làm tốt liên quan đến vấn đề cần thẩm tra.

6. Phân công thành viên và chuyên viên giúp việc Ban tham gia ngay từ đầu cùng với cơ quan, đơn vị được UBND cùng cấp phân công xây dựng đề án, dự thảo nghị quyết.

7. Thực hiện đúng quy trình thẩm tra, bao gồm các bước: yêu cầu UBND cùng cấp hoặc các cơ quan được ủy quyền gửi báo cáo, đề án đúng thời hạn; xây dựng dự thảo báo cáo thẩm tra; chuẩn bị địa điểm, dự kiến thời gian, thành phần và tổ chức hội nghị thẩm tra; người chủ trì nêu các nội dung của báo cáo, đề án cùng những vấn đề cần làm rõ; thảo luận, nêu ý kiến phản biện, đi đến thống nhất nội dung, những kiến nghị, đề xuất để hoàn thiện báo cáo thẩm tra.

8. Trong quá trình thẩm tra phải nêu được chính xác các căn cứ để thẩm tra, trong đó bao gồm căn cứ pháp luật và căn cứ thực tiễn tại địa phương. Bởi, đây chính là những đòi hỏi bức xúc, những yêu cầu cấp thiết đang diễn ra hàng ngày cần sớm được quan tâm tháo gỡ. Nêu được đầy đủ, chính xác các căn cứ pháp luật và căn cứ thực tiễn sẽ làm sinh động và góp phần nâng cao chất lượng báo cáo thẩm tra của các ban HĐND.

         9. Đối với nội dung phức tạp, đặc biệt là về cơ chế, chính sách đặc thù của địa phương, báo cáo thẩm tra phải nêu được những ý kiến phản biện trúng và đúng. Để đạt được điều này, báo cáo thẩm tra phải viện dẫn được các căn cứ pháp luật có tính thuyết phục, các bằng chứng thực tế cũng như dư luận xã hội qua hoạt động giám sát, khảo sát và tiếp xúc cử tri. Đối với những vấn đề mới, còn nhiều ý kiến khác nhau, Ban chủ động báo cáo để Thường trực HĐND cùng cấp chủ trì làm việc với UBND, các sở, ban, ngành liên quan để có thêm tư liệu, luận cứ nâng cao chất lượng báo cáo thẩm tra. Đối với ý kiến thẩm tra không đồng tình với nội dung trình của UBND, Thường trực HĐND tổ chức làm việc với UBND cùng cấp, Ban chịu trách nhiệm thẩm tra, các sở chủ trì tham mưu với UBND thống nhất ý kiến, tạo sự đồng thuận cao trước khi trình kỳ họp. 

10. Những đề xuất, kiến nghị nêu trong báo cáo thẩm tra phải thật cụ thể, có tính khả thi đi thẳng vào vấn đề; không nêu những đề xuất chung chung, cần thể hiện quan điểm, thái độ của Ban đề nghị HĐND xem xét quyết định./.

TÚ ANH

Lượt xem: 579

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.