Thực hiện Kế hoạch giám sát số 15/KH-HĐND ngày 30/7/2018, Ban Đô thị HĐND Thành phố đã tổ chức giám sát tình hình, kết quả triển khai thực hiện các dự án nước sạch trên địa bàn Thành phố.

Qua giám sát cho thấy: Đối với các dự án phát triển nguồn cấp nước tập trung Thành phố hiện đang triển khai đầu tư xây dựng 11 dự án, đã có 01 dự án hoàn thành đưa vào vận hành khai thác từ đầu năm 2018 (dự án nâng công suất nhà máy Bắc Thăng Long – Vân Trì lên 150.000m3/ngđ); 03 dự án theo kế hoạch đến 31/12/2018 hoàn thành và đưa vào vận hành khai thác thì 01 dự án nguy cơ chậm tiến độ; 07 dự án được phê duyệt tiến độ hoàn thành trong năm 2019-2020, trong đó đã có 05 dự án đang triển khai thi công (03 dự án đang thực hiện chuẩn bị đầu tư, 02 dự án bị chậm tiến độ so với kế hoạch, trong đó có 01 dự án tiến độ phê duyệt hoàn thành từ 2009-2010). Đối với các dự án phát triển mạng lưới cấp nước Thành phố đã phê duyệt chủ trương đầu tư 23 dự án để nhà đầu tư nghiên cứu, triển khai thi công tại 382/416 xã, tính đến 30/6/2018 đã có 14 dự án hoàn thành và cơ bản hoàn thành, đáp ứng khả năng đấu nối cung cấp nước cho khoảng 52% người dân ở khu vực nông thôn; 09 dự án đang thi công, dự kiến cuối năm 2018 đáp ứng khả năng đấu nối cung cấp nước cho khoảng 55% người dân ở khu vực nông thôn, có 12/23 dự án đang triển khai đầu tư bị chậm hoặc có nguy cơ chậm tiến độ. Đối với các dự án trạm cấp nước sạch nông thôn, trong giai đoạn từ năm 1990 đến hết năm 2017, Thành phố đã đầu tư xây dựng 119 công trình trạm cấp nước sạch nông thôn bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, tính đến 30/6/2018 có 87 trạm cấp nước đang hoạt động với tổng công suất khoảng 70.000m3/ngđ, cấp nước ổn định cho khoảng 100.000 hộ dân chiếm khoảng 10% số dân sử dụng nước sạch trên toàn Thành phố, 32 trạm cấp nước không hoạt động do công trình đầu tư dở dang nhưng không đủ điều kiện đưa vào hoạt động hoặc đã đưa vào hoạt động nhưng đến nay xuống cấp dừng hoạt động.

Qua báo cáo của các đơn vị và giám sát trực tiếp cho thấy các dự án phát triển nguồn tập trung chậm tiến độ nguyên nhân chủ yếu là do chủ đầu tư chưa quyết liệt, tích cực triển khai thực hiện dự án theo tiến độ, kế hoạch đã được phê duyệt; đối với các dự án phát triển mạng thì về cơ bản các dự án không có vướng mắc lớn, UBND các huyện, chính quyền các xã, thị trấn đã quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi để các đơn vị thi công theo kế hoạch, quá trình triển khai dự án một số công trình phải thực hiện các thủ tục cấp phép thi công đào hè, đường, đê, di chuyển công trình ngầm, nổi đã được các sở, ngành Thành phố xem xét, giải quyết đảm bảo quy định về trình tự, thủ tục và thời gian theo quy định. Về công tác giải phóng mặt bằng hiện chỉ có 01 dự án chưa giải phóng mặt bằng xây dựng 2 trạm tăng áp X1, X2 (Dự án xây dựng hệ thống mạng cấp nước sạch 8 xã huyện Chương Mỹ và khu vực lân cận), nguyên nhân chậm chủ yếu là do các chủ đầu tư chưa quyết liệt trong triển khai thực hiện dự án theo tiến độ, kế hoạch được phê duyệt, Thành phố đã có cơ chế tạo điều kiện để các chủ đầu tư được vay vốn từ Quỹ đầu tư song việc tiếp cận nguồn vốn gặp khó khăn do doanh nghiệp không đáp ứng đủ điều kiện để được vay vốn, công tác phối hợp giữa chính quyền địa phương với một số chủ đầu tư trong công tác giải phóng mặt bằng chưa tốt, chưa kịp thời, một số dự án chậm là do chủ đầu tư tính toán hiệu quả dự án, còn chờ tiến độ hoàn thành từ các dự án đầu tư phát triển nguồn nên chưa quyết liệt triển khai thực hiện, việc thu tiền ứng trước của các hộ dân để thi công lắp đặt đồng hồ đo nước được Thành phố thống nhất chủ trương nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể, thực tế qua triển khai thực hiện không thống nhất giữa các địa phương và giữa các doanh nghiệp dẫn đến so sánh, thắc mắc của Nhân dân nên nhiều hộ gia đình chưa đồng tình lắp đặt đồng hồ, hiện tại tỷ lệ đấu nối sử dụng nước sạch tại những nơi đã lắp đặt đường ống truyền dẫn và phân phối còn thấp, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Đối với các trạm cấp nước sạch nông thôn, nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế do phần lớn các công trình cấp nước sạch nông thôn phân tán, có quy mô nhỏ, nhiều công trình xây dựng không đồng bộ, nhiều công trình sau khi bàn giao không sử dụng được ngay, phải cải tạo, đầu tư bổ sung mới có khả năng đưa vào khai thác kinh doanh với tổng mức đầu tư lớn, khó khăn trong việc thu hồi vốn và hoàn trả nguồn vốn ngân sách đã đầu tư, hiệu quả kinh doanh không cao không hấp dẫn các doanh nghiệp để tiếp nhận quản lý vận hành kinh doanh; chất lượng nước không đảm bảo ổn định, chưa đáp ứng tiêu chuẩn nước sạch đô thị do công nghệ cũ, lạc hậu, tỷ lệ thất thoát nước lớn do mạng truyền dẫn xuống cấp; tỉ lệ người dân sử dụng nước sạch chưa cao; một số đơn vị quản lý vận hành chưa thực hiện đầy đủ quy định về quản lý và giám sát chất lượng nước sau xử lý, nhiều đơn vị chưa thực hiện việc bổ sung công nghệ lọc mới hiện đại theo chỉ đạo của Thành phố, nhiều trạm cấp nước sạch nông thôn đang hoạt động nhưng chủ đầu tư không lắp đặt đồng hồ đo đếm nước đầu vào để làm cơ sở nộp thuế khai thác tài nguyên nước; việc bàn giao, chuyển nhượng dự án cho các nhà đầu tư quản lý vận hành gặp nhiều khó khăn đặc biệt liên quan đến giá trị tài sản còn lại của công trình, chất lượng công trình, hồ sơ pháp lý; giá tiêu thụ nước thấp, chưa được tính đúng, tính đủ chi phí hợp lý, Thành phố chưa ban hành khung giá nước đối với khu vực nông thôn, đơn vị quản lý vận hành tính giá nước trên cơ sở tự tính toán hoặc thỏa thuận với người dân mà chưa được cơ quan có chức năng thẩm định; công tác quản lý, khai thác vận hành, hoạch toán kinh doanh chưa đáp ứng yêu cầu dẫn đến thu không đủ bù chi, không đáp ứng được kinh phí duy tu, bảo dưỡng, tỷ lệ tái đầu tư thấp, công trình nhanh xuống cấp, hư hỏng do đó chưa khai thác hết công suất của một số nhà máy, trạm cấp nước tập trung đã hoàn thành; một số nơi công tác quy hoạch, cấp phép đầu tư xây dựng dự án cấp nước còn chồng lấn quy hoạch dẫn đến khó khăn cho doanh nghiệp và giảm hiệu quả đầu tư của dự án.

Từ những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân khách quan, chủ quan đã được làm rõ qua giám sát, để khắc khắc phục kịp thời các tồn tại, hạn chế này và đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án theo kế hoạch đã phê duyệt, Ban Đô thị HĐND Thành phố kiến nghị một số biện pháp tổ chức thực hiện trong thời gian tới đối với UBND Thành phố, các sở, ngành, UBND các huyện, thị xã và các chủ đầu tư.

Toàn văn báo cáo kết quả giám sát mời xem tại file đính kèm

BẰNG GIANG (VP HĐND TP)

Tệp đính kèm


Đánh giá:

lượt đánh giá: , trung bình:



 Bình luận


Mã xác thực không đúng.
     Liên kết website
    Bình chọn
    Đánh giá của bạn về trang thông tin điện tử đoàn ĐBQH và HĐND thành phố Hà Nội
    110 người đã bình chọn
    Thống kê: 541.277
    Online: 30